|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày 01 - 10 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Đông Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Phúc.
- Ông Võ Hùng Em.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp: Bà Hồ Thị Thuần – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 23/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 07 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 08 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 09 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Hồ Thị B, sinh năm: 1984.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1975.
Địa chỉ: ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp (ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).
Địa chỉ: ấp K, xã T, tỉnh Đồng Tháp (ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).
Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn xin ly hôn ngày 08/05/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị B trình bày:
Về hôn nhân: chị B và anh N tự nguyện kết hôn với nhau năm 2002, đến năm 2008 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống cãi vã nhau thường xuyên, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được. Nay chị B yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Trong thời gian sống chung chị B và anh N có hai con chung Nguyễn Hồ T, sinh năm 2003 đã trưởng thành và Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 23/10/2019. Khi ly hôn chị B yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nhựt T1. Chị B không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Hồ T đã trưởng thành, đã có gia đình riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và đến nay không có văn bản ý kiến nộp (gửi) cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng trình tự theo quy định. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị B được ly hôn với anh N. Về con chung chị B được tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn không có văn bản ý kiến thay đổi yêu cầu, vẫn giữ nguyên yêu cầu tại các buổi hòa giải. Đối với bị đơn đến nay không có văn bản ý kiến gởi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị B có đơn xin ly hôn với anh N, trú tại: xã T, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11- Đồng Tháp.
Phiên tòa hôm nay anh N vắng mặt lần thứ 02 không lý do. Chị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị B xin ly hôn với anh N, con chung yêu cầu được nuôi, tài sản chung không có, nợ chung không có nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[3] Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, chị B và anh N kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống lúc đầu có hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm. Trước đây và cũng như tại phiên hòa giải chị B yêu cầu được ly hôn với anh N. Đối với anh N không có văn bản ý kiến gởi đến Tòa án, phiên tòa hôm nay anh N không có mặt và cũng không đến Tòa án theo các lần triệu tập hòa giải, xét xử nên Hội đồng xét xử không thể hòa giải đoàn tụ cho anh chị. Điều đó chứng minh anh N không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị B. Xét thấy hôn nhân giữa vợ chồng anh chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh N là hoàn toàn chính đáng, phù hợp. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B đối với anh N.
Về con chung: Trong thời gian sống chung chị B và anh N có 02 con chung cháu Hồ T và cháu Nhựt T1. Đối với cháu Hồ T đã trưởng thành, đã có gia đình riêng, đối với cháu Nhựt T1 hiện đang sống với chị B. Chị B yêu cầu được nuôi con chung Nhựt T1. Đối với anh N đến nay không có văn bản ý kiến gởi đến Tòa án. Xét thấy từ khi anh chị phát sinh mâu thuẩn đến nay cháu N1 T1 đang sống với chị B, hơn nữa cháu Nhựt T1 có nguyện vọng được sống với chị B do đó chị B được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhựt T1 là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Tại các buổi hòa giải chị B khẳng định tài sản chung không có, anh N không có văn bản ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp tài sản chung giữa chị B và anh N sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về nợ chung: Tại các buổi hòa giải chị B khẳng định không có nợ chung, anh N không có văn bản ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp nợ chung giữa chị B và anh N sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nội dung và diễn biến của vụ án nên có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị B chịu án phí ly hôn số tiền 300.000đ. Anh N không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về quan hệ con chung:
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
- Chị Hồ Thị B được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 23/10/2019, hiện cháu Nhựt T1 đang sống với chị Hồ Thị B.
Anh Nguyễn Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.
- Chị Hồ Thị B phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Nhưng được trừ vào toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000032 ngày 10 tháng 07 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Như vậy chị B đã nộp đủ.
- Anh Nguyễn Nhựt T1 không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Đông Cúc |
Bản án số 29/2025/HNGĐ-ST ngày 01/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 29/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn