|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/DSST
Ngày 19-3-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Xuân Thuỷ;
Ông Nguyễn Văn Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 493/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Vũ Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: A, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Lê Văn M, sinh năm 1971; chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Chị có nhận chuyển nhượng của anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thị H1 một phần của thửa đất 787 tờ bản đồ số 5 diện tích ngang 09m x 66,62m trong đó có 80m² đất thổ cư, còn lại là đất lúa, tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, giá 620.000.000 đồng. Sau khi thoả thuận, ngày 10-8-2022, hai bên ký Hợp đồng mua bán, chị đã trả trước cho anh M, chị H1 420.000.000 đồng, anh M chị H1 đã giao giấy CNQSDĐ và đo đất cắm trụ giao đất cho chị; khi thực hiện tách thửa sang tên cho chị sẽ trả khoản tiền 200.000.000 đồng còn lại.
Sau đó, chị đã không thực hiện thủ tục tách thửa được vì đất lúa không đủ diện tích tách thửa mà anh M, chị H1 phải chuyển mục đích sang thổ cư xong mới tách thửa được. Sau đó khoảng tháng 3-2024, anh M yêu cầu chị trả giấy CNQSDĐ lại để anh M thế chấp ngân hàng vay tiền trả lại tiền cho chị. Chị đã giao lại giấy CNQSDĐ và phần đất cho anh M nhưng anh M, chị H1 không vay tiền mà đã chuyển nhượng cho người khác và không trả lại tiền cho chị như đã thoả thuận. Do đó, chị khởi kiện yêu cầu huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ngang 09m x 66,62m thửa đất 787 tờ bản đồ số 5 tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh và anh M, chị H1 trả lại 420.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
* Tại Biên bản lấy ngày 05-3-2025 và tại phiên toà khai bị đơn anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thị H1 trình bày:
Anh, chị có chuyển nhượng cho chị H phần diện tích đất ngang 09m x 66,62m thửa đất 787 tờ bản đồ số 5 tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, giá 620.000.000 đồng; chị H đã trả cho vợ chồng anh, chị 420.000.000 đồng, vợ chồng anh chị đã giao đất, giao giấy đất và căn cước công dân cho chị H để chị H sang tên như chi H trình bày là đúng. Tuy nhiên, do diện tích đất lúa không đủ diện tích quy định để tách thửa nên chị H không sang tên được, chị H phải chuyển hết diện tích lên thổ cư nhưng chị H không chuyển được và cũng giữ giấy tờ của anh chị rất lâu. Do cần tiền nên anh chị đã yêu cầu chị H giao lại giấy tờ đất và anh chị cũng đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất người khác. Khi thoả thuận chuyển nhượng, hai bên có lập giấy đặt cọc nhưng không ai ký tên vì đã lập giấy giao nhận tiền. Vì chị H để lâu không thực hiện tách thửa nên phải mất cọc 420.000.000 đồng. Do đó, anh chị không đồng ý huỷ bỏ hợp đồng, không đồng ý trả lại 420.000.000 đồng cho chị H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 119, 122, 131, 502 Bộ luật Dân sự; Điều 167, 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H đối với anh Lê Văn M, chị Nguyễ Thị H2 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất một phần của thửa đất 787 tờ bản đồ số 5 diện tích ngang 09m x 66,62m trong đó có 80m² đất thổ cư, còn lại là đất lúa, tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Buộc anh M, chị H2 hoàn trả cho chị H 420.000.000 đồng.
Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[1.1]. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định, ngày 10-01-2022, anh M và chị H2 chuyển nhượng cho chị H phần đất diện tích ngang 09m, dài 66,2m thuộc thửa 787, tờ bản đồ 5, tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh, trong đó có 80m² đất thổ cư, diện tích đất còn lại là đất lúa, giá 620.000.000 đồng. Ngày 10-8-2022, chị H đã trả cho anh M, chị H2 420.000.000 (bốn trăm hai mươi triệu), anh M chị H2 đã cắm trụ giao đất cho chị H. Theo hợp đồng đã ký, nội dung thể hiện phần đất các bên sang nhượng không thực hiện tách thửa sang tên do diện tích đất lúa nước không đủ diện tích để tách thửa quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013, Điều 6 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020, Điều 6 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy định về diện tích tối thiểu tách thửa đối với đất nông nghiệp tại các tại địa bàn các xã ngoài thành phố T là 1.000m². Do đó, hợp đồng của các bên không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không thực hiện được nên hợp đồng này bị vô hiệu ngay từ khi giao kết theo quy định tại khoản 1 Điều 408 Bộ luật dân sự. Như vậy các bên biết việc phần đất sang nhượng thể thể thực hiện tách thửa nhưng vẫn giao kết hợp đồng dẫn đến việc hợp đồng này không thực hiện được là do lỗi của cả hai bên nên thiệt hại do hậu quả của việc hợp đồng bị vô hiệu các bên tự chịu.
[1.2]. Hợp đồng mua bán đất và giấy giao nhận tiền do các bên ký, không thể hiện khoản tiền 420.000.000 đồng là tiền cọc; và Hợp đồng đặt cọc do anh M chị H2 cung cấp không có chữ ký của các bên. Vì vậy anh M, chị H2 cho rằng, chị H không thực hiện được việc tách thửa là do lỗi chị H nên chị H bị mất cọc là khoản tiền 420.000.000 đồng là không có chứng cứ để xem xét. Mặt khác, sau khi việc tách thửa không thực hiện được, giữa chị H, anh M đã thống nhất, anh M đã lấy lại đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại và cũng đã chuyển nhượng cho người khác thì anh M và chị H2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tiền cho chị H theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị H là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Án phí: anh M và chị H2 phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 131, 408 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ khởi kiện của chị Vũ Thị H đối với anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thị H1
- Về án phí:
- Anh M và chị H1 phải chịu 21.100.000 (hai mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng.
- Hoàn trả cho chị Vũ Thị H 10.400.000 (mười triệu bốn trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009927 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Về quyền kháng cáo: chị H, anh M và chị H1 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Vũ Thị H và anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thị H1 đối với phần diện tích ngang 09m x 66,62m đất thuộc thửa 787, tờ bản đồ số 5, tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh vô hiệu.
Buộc anh Lê Văn M và chị Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ trả cho chị Vũ Thị H 420.000.000 (bốn trăm hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị An Tiên |
5
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN ................................................ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An T |
Bản án số 29/2025/DSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 29/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu trả tiền đã nhận chuyển nhượng QSDĐ
