Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số: 29/2025/DS-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Ngọc Ánh;

Ông Trần Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20/5 và 27/6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2024/TLDS-ST ngày 26/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2025/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025, Thông báo hoãn phiên tòa số 20/2025/TB-TA ngày 27/5/2025 và Thông báo dời ngày xét xử số 23/2025/TB-TA ngày 09/6/2025 giữa:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

* Bị đơn: Ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1975; Nơi cư trú: D J, Stockton CA 95210, USA.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đào Thanh T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ H Xóm Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Theo hợp đồng uỷ quyền số 000412, quyển số 01/2025 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/01/2025 tại Văn phòng C1, thành phố N). Có mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: D J, Stockton CA 95210, USA. Vắng mặt.
  • - Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • - Ông Đỗ Quốc C, sinh năm 1990 và bà Lương Hoàng T2, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 08/12/2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/01/2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H trình bày:

Ngày 12/8/2023, ông Nguyễn Xuân H có đặt cọc với ông Đỗ Xuân L để nhận chuyển nhượng ô đìa nuôi trồng thuỷ sản tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số CI 752615, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH07652 tọa lạc tại Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1. Các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng thửa đất này là 1.530.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm ba mươi triệu đồng). Tại thời điểm đặt cọc, ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1 không có mặt tại Việt Nam nên ông L có ủy quyền cho ông Đỗ Văn N (anh ruột ông L) để nhận tiền đặt cọc thay cho mình. Số tiền ông H đặt cọc cho ông L là 400.000.000đồng và hợp đồng được viết bằng giấy tay không được công chứng chứng thực. Các bên thoả thuận thời gian thanh toán số tiền còn lại dự kiến vào ngày 30/11/2023.

Khi chuyển tiền đặt cọc, ông N đề nghị ông H chuyển cho bà Lương Hoàng T2 (con dâu ông N) qua số tài khoản 0581000757633 tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh N2 (V – Chi nhánh N2) số tiền 400.000.000 đồng. Các bên đã xác nhận nhận tiền đặt cọc theo giấy đặt cọc.

Sau đó, vì thời gian thoả thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất quá lâu so với thời điểm đặt cọc và tình hình làm ăn thua lỗ liên tục nên ông H không có khả năng tiếp tục thanh toán số tiền còn lại để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Khi ông L về Việt Nam, ông H có trực tiếp đến gặp ông L để thông báo về khả năng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng như các bên thoả thuận và chấp nhận hỗ trợ chi phí đi lại về Việt Nam cho ông L. Ông H nhiều lần liên hệ với ông L qua ứng dụng Zalo nhưng không nhận được sự phản hồi của ông L và cho rằng ông L đang cố tình chiếm đoạt tài sản của ông.

Nay nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H đề nghị Toà án giải quyết:

  • - Buộc ông Đỗ Xuân L phải trả lại tiền đặt cọc 400.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 12/8/2023 đến ngày 12/12/2023 là 11.530.032 đồng.
  • - Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi chỉ yêu cầu trả lại tiền cọc 400.000.000 đồng.

* Tại bản tự khai, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đào Thanh T trình bày:

Ngày 09/8/2023, ông Nguyễn Xuân H có liên hệ với ông Đỗ Xuân L đặt vấn đề mua Thửa đất. Ông H đã xem thửa đất, giấy tờ và đồng ý mua với giá 1.530.000.000 đồng.

Thời điểm này do ông L đang ở Mỹ nên các bên thỏa thuận lập hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Theo nội dung của hợp đồng đặt cọc thì số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Thời hạn thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bên mua tại Văn phòng công chứng vào tháng 11/2023. Nếu đến thời hạn này bên bán chưa về Việt Nam được thì gia hạn đến 31/12/2023. Khi hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng sẽ thanh toán số tiền còn lại. Hai bên đồng thời thỏa thuận về việc phạt cọc: nếu bên mua không mua sẽ mất tiền cọc, bên bán không bán phải bồi thường cho bên mua 3 lần tiền cọc (không bao gồm số tiền đặt cọc).

Giấy đặt cọc do ông H soạn thảo có chụp hình gửi cho ông L xem và hai bên đồng ý với nội dung của bản thỏa thuận. Vào thời điểm hai bên giao kết hợp đồng đạt cọc ông L không có mặt trực tiếp nên nhờ ông Đỗ Văn N (anh trai ông L) ký xác nhận bên nhận chuyển nhượng và được nhận tiền đặt cọc. Ông Nguyễn Xuân H đã thanh toán số tiền cọc 400.000.000 đồng cho ông L bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bà Lương Hoàng T2 (là cháu dâu của ông L). Sau đó, tháng 11/2023, khi ông L về Việt Nam, bà T2 đã đưa số tiền này cho chồng bà là ông Đỗ Quốc C (là cháu ruột của ông L) và ông L đã nhận đủ số tiền 400.000.000 đồng từ ông C.

Sau khi các bên giao kết thỏa thuận đặt cọc, ông H còn hướng dẫn ông L làm thủ tục ủy quyền giữa hai vợ chồng tại Mỹ để ông L đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ông L. Thực hiện đúng theo thỏa thuận đặt cọc, ngày 07/11/2023 ông Đỗ Xuân L về C, Khánh Hòa mang theo đầy đủ giấy tờ liên quan gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất chuyển nhượng, hợp đồng ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thanh T1 - vợ của ông L lập ngày 11/10/2023 tại T3 tại S, Hoa Kỳ ủy quyền cho ông L đại diện giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 02 cho ông H theo giao dịch đặt cọc ngày 12/8/2023. Tuy nhiên, ông H đổi ý không mua, không ký kết hợp đồng chuyển nhượng cũng như không thanh toán số tiền còn lại cho ông L.

Theo nội dung của giao kết đặt cọc của hai bên thì bên mua là ông Nguyễn Xuân H đã từ chối mua là vi phạm thỏa thuận đặt cọc nên mất tiền đặt cọc. Ông Đỗ Xuân L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân H nên đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ông Nguyễn Xuân L1 khẳng định vợ ông tên là Nguyễn Thị Thanh T1 và bà T1 đã nhận được các văn bản tố tụng do Toà án gửi cho bà T1.

* Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn N trình bày:

Ông N là anh ruột của ông L1. Ông N có thuê Thửa đất của ông L1 để làm ăn. Khi ông Nguyễn Xuân H tiến hành mua thửa đất trên thì ông L1 có nhờ ông N nhận số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng vì thời gian này ông L1 đang ở Mỹ. Ông H giao tiền đặt cọc bằng hình thức chuyển khoản nên ông đề nghị ông H chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Lương Hoàng T2 (con dâu ông N). Sau đó bà T2 chuyển vào số tài khoản của ông Đỗ Quốc C (con trai ông N) để chuyển cho ông L1.

Tháng 10/2023, ông L1 về Việt Nam để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 02. Tuy nhiên, ông H trình bày không có khả năng tiếp tục thực hiện việc mua bán nên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, ông N không còn biết gì về chuyện mua bán giữa ông H và ông L1.

Trong trường hợp ông H và ông L1 tiếp tục thực hiện việc mua bán thì ông sẽ trả lại phần đất trên cho ông L1 mà không có tranh chấp gì. Vì lý do công việc nên ông xin vắng mặt tại các buổi xét xử của Toà án.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quốc C trình bày:

Ông C (con trai của ông N) có biết về việc ông Nguyễn Xuân H tiến hành đặt cọc mua Thửa đất của ông L1. Khi tiến hành giao tiền đặt cọc thì ông L1 có nhờ ông N nhận số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng vì thời gian này ông L1 đang ở Mỹ. Ông H giao tiền đặt cọc bằng hình thức chuyển khoản nên ông N đề nghị ông H chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà Lương Hoàng T2 (là vợ của ông). Sau đó bà T2 chuyển vào số tài khoản của ông để chuyển cho ông L1.

Tháng 10/2023, ông L1 về Việt Nam để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với Thửa đất. Tuy nhiên, ông H trình bày không có khả năng tiếp tục thực hiện việc mua bán nên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau đó, ông không còn biết gì về chuyện mua bán giữa ông H và ông L1.

Đối với số tiền đặt cọc mà ông nhận từ bà T2 thì ông đã chuyển cho ông L1 đầy đủ. Vì lý do công việc nên ông xin vắng mặt tại các buổi xét xử của Toà án.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Hoàng T2 trình bày:

Bà là con dâu của ông Đỗ Văn N. Ngày 12/8/2023, bà có ký hợp đồng đặt cọc nhận chuyển nhượng thửa đất số 02 với tư cách là người làm chứng về việc ông Đỗ Văn N có nhận số tiền 400.000.000 đồng để đảm bảo việc chuyển nhượng thửa đất trên. Tuy nhiên, do ông N không rành về điện thoại nên bà là người nhận trực tiếp số tiền 400.000.000 đồng từ ông Nguyễn Xuân H qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của bà. Sau đó, bà đã chuyển số tiền trên qua tài khoản của chồng bà là ông Đỗ Quốc C để ông C chuyển lại cho ông L1. Vì lý do bận công việc nên bà xin vắng mặt tại các buổi xét xử của Toà án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 58, 147, 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc là 400.000.000 đồng và 11.530.032 đồng tiền lãi, tổng số tiền là 411.530.032 đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu đối với số tiền lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về dân sự, bị đơn Đỗ Xuân L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thanh T1 hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp được xác lập bằng Giấy đặt cọc sang nhượng đìa tôm thủy sản giữa ông Đỗ Xuân L và ông Nguyễn Xuân H được lập ngày 12/8/2023. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự.

[1.3] Về trình tự thủ tục:

  • - Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Bà Nguyễn Thị Thanh T1 hiện đang sống ở Hoa Kỳ. Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng thông báo về thời gian tham gia tố tụng tại Tòa án thông qua địa chỉ do nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, bà T1 không có văn bản phản hồi về nội dung vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T1 theo quy định tại Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện, theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Ngày 12/8/2023, ông Nguyễn Xuân H có đặt cọc với ông Đỗ Xuân L để nhận chuyển nhượng ô đìa nuôi trồng thuỷ sản tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 02 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số CI 752615, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH07652 toạ lạc tại Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1. Các bên thoả thuận giá chuyển nhượng thửa đất này là 1.530.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm ba mươi triệu đồng). Tại thời điểm đặt cọc, ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1 không có mặt tại Việt Nam nên ông L có ủy quyền cho ông Đỗ Văn N (anh ruột ông L) để nhận tiền đặt cọc thay cho mình. Số tiền ông H đặt cọc cho ông L là 400.000.000 đồng và hợp đồng được viết bằng giấy tay không được chính quyền địa phương xác nhận. Các bên thoả thuận thời gian thanh toán số tiền còn lại dự kiến vào ngày 30/11/2023.

Khi chuyển tiền đặt cọc, ông N đề nghị ông H chuyển cho bà Lương Hoàng T2 (con dâu ông N) qua số tài khoản 0581000757633 tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh N2 (V – Chi nhánh N2) số tiền 400.000.000 đồng. Các bên đã xác nhận nhận tiền đặt cọc theo giấy đặt cọc.

Sau đó, vì thời gian thoả thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất quá lâu so với thời điểm đặt cọc và tình hình làm ăn thua lỗ liên tục nên ông H không có khả năng tiếp tục thanh toán số tiền còn lại để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Khi ông L về Việt Nam, ông H có trực tiếp đến gặp ông L để thông báo về khả năng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng như các bên thoả thuận và chấp nhận hỗ trợ chi phí đi lại về Việt Nam cho ông L. Ông H nhiều lần liên hệ với ông L qua “zalo” nhưng không nhận được sự phản hồi của ông L và cho rằng ông L đang cố tình chiếm đoạt tài sản của ông. Sau đó, ông H1 khởi kiện yêu cầu ông L trả lại số tiền cọc 400.000.000 đồng.

Về nội dung của giao dịch đặt cọc, các bên đã thỏa thuận và thống nhất: “Bên mua không mua sẽ mất tiền cọc, bên bán không bán sẽ bồi thường gấp 03 lần tiền cọc (không bao gồm số tiền đã đặt cọc)”, “Đến tháng 11/2023 (dương lịch) bên bán về Việt Nam hoàn tất thủ tục sang nhượng cho bên mua khi ra hợp đồng công chứng xong bên mua sẽ thanh toán đủ số tiền.”, “Đến tháng 11/2023 bên bán không về được thì bên mua sẽ gia hạn đến ngày 31/12/2023 là thời gian cuối”. Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù ông L không trực tiếp ký kết hợp đồng đặt cọc cùng với ông H nhưng ông L có nhờ ông N đứng ra ký và nhận tiền cọc thay ông L. Điều này đã được ông H và ông L thỏa thuận với nhau và ông H đồng ý với phương án này nên ông H là người viết giấy đặt cọc. Như vậy, hợp đồng đặt cọc không vi phạm các điều kiện của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự nên giấy đặt cọc giữa ông H và ông L có hiệu lực pháp luật, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 12/8/2023.

Theo thông tin vé máy bay và hộ chiếu của ông Đỗ Xuân L do người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cung cấp đã thể hiện ông L nhập cảnh ở lại Việt Nam từ ngày 07/11/2023 và xuất cảnh vào ngày 13/01/2024. Cũng như theo lời khai của các đương sự đều xác nhận tháng 11/2023, ông L đã có mặt tại Việt Nam để tiếp tục thực hiện việc mua bán chuyển nhượng thửa đất nêu trên với ông H. Ngoài ra, bà T1 – vợ ông L cũng lập giấy ủy quyền ngày 11/10/2023 cho ông L để thực hiện giao dịch chuyển nhượng này. Như vậy, có căn cứ cho thấy ông L và bà T1 có ý chí thực hiện giao dịch chuyển nhượng thửa đất nêu trên với ông H. Đồng nghĩa, ông L đã không vi phạm nghĩa vụ của mình trong giao dịch đặt cọc.

Đối với ông H, sau khi đặt cọc ông H (người đặt cọc) đã thông báo khó khăn về tài chính không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhưng yêu cầu của ông H không được ông L chấp nhận. Điều này, thể hiện tại đơn khởi kiện ngày 18/12/2023 và các lời khai của các đương sự cho thấy chính ông H là người soạn thảo hợp đồng, đưa ra các điều kiện, quyền và nghĩa vụ của bên nhận cọc, bên đặt cọc, thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng. Ngoài ra, tại đơn cung cấp thông tin ngày 20/3/2024 đã thể hiện ông H đưa ra lý do là vì tình hình kinh doanh của ông H không thuận lợi và thời điểm thực hiện từ tháng 8/2023 đến tháng 11/2023 kéo dài nên ông không còn khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Như vậy, lý do ông H đưa ra do khó khăn về tài chính và thời gian thực hiện hợp đồng kéo dài nên ông H đã không tiếp tục thực hiện giao dịch chuyển nhượng và yêu cầu ông L hoàn trả tiền cọc. Điều này cho thấy, lý do ông H đưa ra không phải lỗi của bị đơn nên hợp đồng đặt cọc vẫn có hiệu lực. Từ những cơ sở, căn cứ nêu trên, nhận thấy, ông H đã không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, vi phạm nghĩa vụ của bên mua nên ông H phải chịu mất cọc.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại tiền cọc 400.000.000 đồng cho nguyên đơn.

[2.3] Về án phí:

  • - Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể là: 400.000.000 đồng x 5% = 20.000.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 10.231.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0004570 ngày 30/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, ông Nguyễn Xuân H còn phải nộp 9.769.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[2.4] Về chi phí tố tụng:

  • - Ông Nguyễn Xuân H phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0073586 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; Chi phí tống đạt thực tế tại Hoa Kỳ là 190 USD (tương đương 4.837.400 đồng), cộng với phí chuyển tiền đi nước ngoài là 22 USD (tương đương 560.120 đồng), tổng cộng là 5.397.520 đồng (Năm triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi đồng). Ông H đã nộp tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh K để ủy thác hồ sơ đối với ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1. Như vậy, ông Nguyễn Xuân H đã nộp đủ tiền phí ủy thác và chi phí ủy thác thực tế.
  • - Ông Nguyễn Xuân H phải chịu chi phí dịch thuật và ủy thác theo đường bưu chính (gửi thư) là 1.805.000 đồng (Một triệu tám trăm lẻ năm nghìn đồng). Ông Nguyễn Xuân H đã nộp đủ số tiền này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 328 của Bộ luật dân sự 2015.
  • - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 96, 147, 185, 227, 266 và 477 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  • [1] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi đối với số tiền cọc 400.000.000 đồng là 11.530.000 đồng.
  • [2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân H về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, yêu cầu bị đơn ông Đỗ Xuân L trả lại số tiền đặt cọc 400.000.000 đồng cho nguyên đơn.
  • [3] Về án phí: Ông Nguyễn Xuân H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 10.231.000 đồng (Mười triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0004570 ngày 30/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Như vậy, ông Nguyễn Xuân H còn phải nộp 9.769.000 đồng (Chín triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  • [4] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Xuân H phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0073586 ngày 12/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; Chi phí tống đạt thực tế tại Hoa Kỳ là 190 USD (tương đương 4.837.400 đồng), cộng với phí chuyển tiền đi nước ngoài là 22 USD (tương đương 560.120 đồng), tổng cộng là 5.397.520 đồng (Năm triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi đồng). Ông H đã nộp tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh K để ủy thác hồ sơ đối với ông Đỗ Xuân L và bà Nguyễn Thị Thanh T1. Như vậy, ông Nguyễn Xuân H đã nộp đủ tiền phí ủy thác và chi phí ủy thác thực tế. Ông Nguyễn Xuân H phải chịu chi phí dịch thuật và ủy thác theo đường bưu chính (gửi thư) là 1.805.000 đồng (Một triệu tám trăm lẻ năm nghìn đồng). Ông Nguyễn Xuân H đã nộp đủ số tiền này.
  • * Quy định: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  • [5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án; Bà Nguyễn Thị Thanh T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

* Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Chi Cục THADS TP. Cam Ranh;
  • - Lưu hồ sơ, án văn, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 29/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Hùng và Đỗ Xuân Lộc tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger