Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 29/2025/DS-ST

Ngày 24/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Sơn, bà Ngô Thị Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 08/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 42/2025/QĐXX-DSST ngày 22 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QĐST-DS ngày 6/6/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A).

Địa chỉ: Số B - L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng.

Ông Vũ Thành C – Giám đốc phòng G - Ngân hàng N1 chi nhánh thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. (Theo văn bản ủy quyền số 05/UQ-NHN0. TTBN-TH ngảy 6/4/2025 giữa ông Nguyễn Minh T – Giám đốc A chi nhánh T với ông Vũ Thành C) – (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Ơ, sinh năm 1971. (vắng mặt)

Bà Hồ Thị P, sinh năm 1976. (bà P ủy quyền cho ông Ơ)

Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1949.
  2. Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952.
  4. Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  5. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973.
  6. Địa chỉ: Thôn T, xã H, thị xã T, Bắc Ninh.

  7. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1975.
  8. Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  9. Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1978.
  10. Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  11. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1980.
  12. Địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  13. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1983.
  14. Địa chỉ: Thôn L, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

(Các ông bà; ông M, bà N, bà H, bà U, bà D và bà V đều đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai của đại diện nguyên đơn; lời khai của bị đơn có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Phía ông Vũ Thành C trình bày:

Ngày 12/02/2020 Ngân hàng N1 (gọi tắt là A) – Chi nhánh huyện T (nay là thị xã T) – Phòng giao dịch phố H với vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ và bà Hồ Thị P do bà P đại diện đã thỏa thuận, thống nhất và ký thực hiện 01 hợp đồng tín dụng số 2607- LAV- 202000203. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phía Ngân hàng cung cấp cho vợ chồng ông Ơ, bà P một khoản tín dụng với số tiền vay hạn mức là 300.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức 03 năm kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Ngoài thỏa thuận về số tiền hạn mức tín dụng thì hai bên còn thỏa thuận với nhau về lãi suất áp dụng, biện pháp đảm bảo tiền vay, quyền và nghĩa vụ của các bên cùng các điều khoản khác được thể hiện tại Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký.

Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng này, ngày 17/2/2020 hộ gia đình ông Nguyễn Đình M do ông M đại diện ủy quyền đã tiến hành ký một hợp đồng thế chấp tài sản số 2607-LCL-202000138. Tài sản thế chấp là diện tích đất 630m² có số thửa 290, tờ bản đồ số 04p, đất tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 005179, số vào sổ 00301 QSDĐ cấp ngày 22/12/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Đình M.

Căn cứ vào thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký, ngày 29/4/2021 phía Ngân hàng A đã tiến hành giải ngân cho vợ chồng ông Ơ, bà P số tiền 210.000.000 đồng được thể hiện tại “Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 2607 – LDS- 202102153” với định kỳ trả nợ gốc trong các năm từ 2002 đến 2026, lãi trả định kỳ 03 tháng/01 lần. Bà P thay mặt ông Ơ đã nhận đủ số tiền vay này. Quá trình thực hiện hợp đồng phía vợ chồng ông Ơ, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã cam kết theo hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền lãi, tiền gốc mặc dù đã được phía Ngân hàng đôn đốc nhiều lần.

Theo đơn khởi kiện phía Ngân hàng A đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Ơ, bà P phải có nghĩa vụ thanh toán trả ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 19/5/2025 là 307.528.320 đồng. Trong đó nợ gốc 205.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 71.408.320 đồng, nợ lãi quá hạn 102.528.320 đồng. Yêu cầu ông Ơ, bà P tiếp tục phải trả lãi đối với nợ gốc còn nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.

Trường hợp ông Ơ, bà P không trả được nợ, đề nghị Tòa án tuyên bố Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 290 của hộ ông Nguyễn Đình M để thi hành án.

Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cũng như trong thời gian chuẩn bị xét xử phía Ngân hàng cung cấp cho Tòa án gồm: Các tài liệu về pháp nhân Ngân hàng; Hợp đồng tín dụng đã ký; Hợp đồng thế chấp tài sản; khế ước nhận nợ và các tài liệu chứng cứ khác.

Vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P trình bày:

Ông Ơ, bà P tại văn bản tự khai ghi ngày 18/12/2024 trình bày xác nhận ngày 12/02/2020 vợ chồng có ký hồ sơ vay vốn của Ngân hàng A Chi nhánh huyện T (nay là thị xã T) – Phòng giao dịch phố H với hạn mức tín dụng 300.000.000 đồng. Ngày 29/4/2021 vợ chồng được Ngân hàng giải ngân số tiền 210.000.000 đồng. Sau đó trong quá trình vay vốn làm ăn do công việc khó khăn nên mới chỉ trả Ngân hàng được 5.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi chưa trả. Ông Ơ, bà P xác định đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng.

Nay phía Ngân hàng A có yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, nợ lãi. Ý kiến của ông Ơ, bà P đề nghị phía Ngân hàng cho miễn giảm một số tiền lãi và tạo điều kiện cho vợ chồng ông, bà trả dần số tiền nợ.

Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông bà: Ông Nguyễn Đình M, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị U, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị V trình bày:

Ông M, bà N là bố mẹ đẻ của ông Nguyễn Đình Ơ. Ông M, bà N sinh được 06 người con là ông Ơ, bà H, bà C1, bà U, bà D và bà V.

Thời điểm năm 2020 vợ chồng ông Ơ, bà P làm hồ sơ vay tiền của A – Phòng giao dịch phố H. Để đảm bảo cho khoản vay này thì ngày 17/02/2020 phía hộ gia đình ông Nguyễn Đình M, do ông M đại diện đã ký hợp đồng thế chấp số 2607-LCL- 202000138 với thỏa thuận. Hộ gia đình ông M dùng khối tài sản là nhà đất tại thửa số 290, tờ bản đồ số 04p, đất tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 005179, số vào sổ 00301 QSDĐ cấp ngày 22/12/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Đình M để đảm bảo cho khoản vay. Việc thế chấp cũng đã được các bên thống nhất và ký hợp đồng có công chứng, chứng thực.

Nay phía Ngân hàng có yêu cầu khởi kiện, phía gia đình ông M đều xác định việc thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng ông Ơ, bà P là đúng quy định. Phía gia đình ông M chỉ đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để cho vợ chồng ông Ơ, bà P có kế hoạch trả nợ cho phù hợp.

Quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng, đã thông báo cho ông Ơ, bà P tham gia các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Ơ đều vắng mặt. Tòa án cũng đã tiến hành thủ tục xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp với kết quả tài sản thế chấp không có biến động gì so với thời điểm ký thế chấp.

Tại phiên tòa người đại diện Nguyên đơn tham gia tố tụng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Ơ, bà P phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay cùng với lãi suất theo thỏa thuận tạm tính đến thời điểm ngày 24/6/2025 là 309.509.790 đồng, trong đó nợ gốc 205.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 73.389.790 đồng, lãi quá hạn 31.120.000 đồng. Trường hợp vợ chồng ông Ơ, bà P không trả được nợ thì đề nghị Tòa án tuyên bố Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Phía vợ chồng ông Ơ, bà P cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có vi phạm cần kiến nghị khắc phục. Đối với bị đơn đã được Tòa án tiến hành giao thông báo họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thông báo về lịch xét xử vụ kiện đúng quy định nhưng bị đơn đều vắng mặt nên HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng vợ chồng ông Ơ, bà P là có căn cứ. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi liên quan là có căn cứ.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng. Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử buộc vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P phải trả Ngân hàng A số tiền nợ cả gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử là 309.509.790 đồng. T1 buộc ông Ơ, bà P tiếp tục phải trả lãi đối với nợ gốc còn nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp không trả được nợ đề nghị tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Ơ, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tài sản.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Xem xét tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cũng như chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án:

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 (A) đối với vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Ơ, bà P phải trả lại số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Phía ông Ơ, bà P có nơi cư trú tại thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung tranh chấp:

[2.1]. Ngày 12/2/2020 giữa Ngân hàng N1 (gọi tắt là A) – Chi nhánh huyện T (nay là thị xã T) – Phòng giao dịch phố Hồ với vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P đã thỏa thuận và đi đến ký kết một hợp đồng tín dụng số 2607- LAV- 202000203. Với thỏa thuận ngân hàng cho ông Ơ, bà P vay một hạn mức tín dụng với số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn duy trì hạn mức 03 năm kể từ ngày ký hợp đồng. Về lãi suất hai bên cũng thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt theo đúng quy định của Bộ Luật dân sự cũng như quy định tại Luật các tổ chức tín dụng. Ngày 29/4/2021 vợ chồng ông Ơ, bà P đã nhận giải ngân số tiền 210.000.000 đồng vay theo hợp đồng.

Như vậy xác định được giữa vợ chồng ông Ơ, bà P với Ngân hàng A đã thiếp lập 01 hợp đồng tín dụng. Hợp đồng do các bên tự nguyện, hợp đồng đảm bảo thủ tục hình thức theo quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý để thực hiện.

[2.2]. Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng trên, ngày 17/2/2020 hộ gia đình ông Nguyễn Đình M do ông M đại diện đã tiến hành ký một hợp đồng thế chấp tài sản số 2607-LCL-202000138. Tài sản thế chấp để đảm bảo tiền vay là diện tích đất 630m² có số thửa 290, tờ bản đồ số 04p, đất tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 005179, số vào sổ 00301 QSDĐ cấp ngày 22/12/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Đình M. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật và được đăng ký thế chấp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên có giá trị thực hiện.

[2.3]. Sau khi ký hợp đồng tín dụng phía vợ chồng ông Ơ, bà P đã được phía Ngân hàng giải ngân và nhận số tiền vay 210.000.000 đồng. Tuy nhiên sau đó đến hạn trả nợ nhưng phía vợ chồng ông Ơ, bà P đã vi phạm nghĩa vụ không thực hiện đúng việc trả nợ theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng đã ký. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng A, buộc vợ chồng ông Ơ, bà P phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/6/2025 là 309.509.790 đồng, trong đó:

Nợ gốc 205.000.000 đồng.

Nợ lãi trong hạn 73.389.790 đồng.

Nợ lãi quá hạn 31.120.000 đồng.

Về lãi suất chậm thi hành án: Vợ chồng ông Ơ, bà P tiếp tục phải trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc đã vay theo lãi suất đã được hai bên thống nhất tại hợp đồng tín dụng đã ký đến khi ông Ơ, bà P thanh toán hết số tiền nợ gốc cho Ngân hàng. Trường hợp vợ chồng ông Ơ, bà P không trả được nợ phía Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[3]. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vợ chồng ông Ơ, bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tương ứng với số tiền phải trả Ngân hàng và phải chịu chi phí thẩm định tài sản. Do số tiền chi phí thẩm định tài sản phía Ngân hàng đã tạm ứng nên ông Ơ, bà P phải hoàn trả Ngân hàng số tiền này.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 468 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1, khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P phải trả khoản tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 2607- LAV- 202000203 mà hai bên đã ký ngày 12/02/2020 và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 2067-LDS-202102153.
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đình Ơ, bà Hồ Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng N1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 24/6/2025 theo hợp đồng tín dụng số 2607- LAV- 202000203 ký ngày 12/02/2020 và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 2067-LDS-202102153 với tổng số tiền nợ là 309.509.790 đồng. (Trong đó nợ gốc 205.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 73.389.790 đồng; nợ lãi quá hạn 31.120.000 đồng).

Vợ chồng ông Ơ, bà P tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 2607- LAV- 202000203 ký ngày 12/02/2020 tương ứng với số tiền nợ gốc còn lại đến khi trả xong số tiền nợ.

  1. Trường hợp ông Ơ, bà P không trả được số tiền nợ, phía Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là diện tích đất 630m² tại thửa số 290, tờ bản đồ số 04p, đất tại thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, thửa đất đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 005179, số vào sổ 00301 QSDĐ cấp ngày 22/12/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Đình M để thu hồi nợ.
  2. Về án phí, chi phí thẩm định tài sản: Ngân hàng N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả Ngân hàng số tiền 6.890.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001467 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Vợ chồng ông Ơ, bà P phải chịu 15.475.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định tài sản (Xác nhận phía Ngân hàng đã nộp 5.000.000 đồng tiền tạm ứng thẩm định nên ông Ơ, bà P phải hoàn trả Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng này).

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  2. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND thị xã Thuận Thành.
  • - Chi cục THADS thị xã Thuận Thành.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 29/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng NN với ông Nguyễn Đình O
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger