|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/DS-ST
Ngày 24/6/2025
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Hoa Hằng
Bà Võ Thị Kim Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Hoàng Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ (B); Địa chỉ trụ sở chính: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị L1 – Trưởng phòng Quản lý rủi ro Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ chi nhánh Q1 (Giấy ủy quyền ngày 23/6/2025). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T; cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần Đ (B) trình bày:
- Về hợp đồng tín dụng:
- Về tài sản bảo đảm:
- Về yêu cầu khởi kiện:
- Buộc ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi vay cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với số tiền tính đến hết ngày 06/01/2025 là: 1.745.512.050 đồng (Một tỷ bảy trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm mười hai nghìn không trăm năm mươi đồng). Trong đó:
- + Nợ gốc: 1.708.741.975 đồng;
- + Nợ lãi: 36.770.075 đồng.
Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ký ngày 27/06/2024.
- Buộc ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải thanh toán toàn bộ nợ lãi phát sinh kể từ ngày 07/01/2025 cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ký ngày 27/06/2024 với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
- Trường hợp ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ vay, cụ thể:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 625051Sở Tài nguyên và Môi trường Q2 cấp ngày 11/8/2016 và những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh huyện C xác nhận ngày 08/01/2018, đã ký theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018 giữa ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1.
- Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ngày 27/06/2024 với số tiền vay 1.720.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng); thời hạn vay: Từ ngày 27/06/2024 đến 27/06/2044; mục đích vay: Sửa chữa nhà ở; thời hạn vay: 240 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng; ngày giải ngân: 27/06/2024; ngày đáo hạn: 27/06/2044; lịch trả nợ lãi: Định kỳ vào ngày 10 hàng tháng; kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/07/2024. Lãi suất: 6,2%/năm (Trong hai năm đầu), lãi quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn.
Để bảo đảm cho toàn bộ khoản nợ trên, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1 và ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 625051 Sở T2 cấp ngày 11/8/2016 và những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh huyện C xác nhận ngày 08/01/2018.
Trong quá trình vay vốn, ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T đã không trả nợ đúng hạn, dẫn đến quá hạn. Ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đầu tiên theo hợp đồng là ngày 10/10/2024. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông Q, bà T yêu cầu trả nợ nhưng đến nay vẫn chưa trả hết nợ vay quá hạn tại Ngân hàng.
Vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
Tại phiên tòa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu trả gốc và lãi tính đến ngày xét xử 24/6/2025 là 1.792.424.172 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.708.741.975; Nợ lãi trong hạn: 83.318.049 đồng; lãi quá hạn: 364.148 đồng. Và tiếp tục chịu lãi theo hợp đồng kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi tất toán khoản vay.
Bị đơn ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Về nội dung vụ án: áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tổng số tiền tính đến ngày 24/6/2025 là 1.792.424.172 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.708.741.975; Nợ lãi trong hạn: 83.318.049 đồng; lãi quá hạn: 364.148 đồng.
Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi tất toán khoản vay.
Nếu ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T không trả nợ hoặc chỉ trả được một phần khoản nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018 để thu hồi nợ.
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay: Sửa chữa nhà ở. Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T có địa chỉ cư trú tại Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Do đó xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên toà hôm nay, ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T.
Nguyên đơn bổ sung khoản tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, nên được chấp nhận.
[3] Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền gốc:
Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ngày 27/06/2024 với số tiền vay 1.720.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng); thời hạn vay: Từ ngày 27/06/2024 đến 27/06/2044; thời hạn vay: 240 tháng; ngày giải ngân: 27/06/2024; lịch trả nợ gốc và lãi: Định kỳ vào ngày 10 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên vào ngày 10/07/2024.
Về hình thức và nội dung hợp đồng đảm bảo quy định của pháp luật, có hiệu lực, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 10/10/2024 ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T chỉ trả được 11.258.025 đồng tiền gốc và một khoản tiền lãi. Do khoản vay theo hợp đồng trên đã không được bên vay ông Q và bà T trả nợ đúng hạn, nên Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã chuyển nợ quá hạn ngày 10/10/2024, đồng thời cũng đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông Q và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Như vậy bên vay ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay tại Điều 9 Điều khoản và điều kiện vay (Đính kèm Hợp đồng tín dụng) nên Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định tại Điều 8 Điều khoản và điều kiện vay (Đính kèm Hợp đồng tín dụng). Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, buộc ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ngày 27/06/2024 là 1.708.741.975 đồng (Một tỷ, bảy tăm lẽ tám triệu, bảy trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng).
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về khoản tiền lãi:
Theo hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ngày 27/06/2024, số tiền cấp tín dụng là 1.720.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm hai mươi triệu đồng), lãi suất 6,2%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% của lãi trong hạn, lãi trả cùng kỳ với nợ gốc. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q và bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đến ngày 24/6/2025 số tiền lãi cụ thể là (Bảng kê chi tiết kèm theo):
- + Lãi trong hạn:
- + Lãi quá hạn:
Từ ngày 10/9/2024 đến ngày 24/6/2025, với mức lãi suất 6,2%/năm, thành tiền 83.318.049 đồng (Tám mươi ba triệu, ba trăm mười tám nghìn, không trăm bốn mươi chín đồng).
Từ ngày 10/10/2024 đến ngày 24/6/2025, với mức lãi suất 3,1%/năm, thành tiền 364.148 đồng (Ba trăm sáu mươi tư nghìn, một trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày 25/6/2025, ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T còn phải tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ngày 27/06/2024 cho đến khi tất toán khoản vay.
[3.3] Đối với yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh huyện C, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, không có tài sản trên đất. Xác định ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T đã sử dụng diện tích đất đúng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, trong trường hợp ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ vay, cụ thể:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 745, tờ bản đồ số 44, diện tích 200 m², địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 625051Sở Tài nguyên và Môi trường Q2 cấp ngày 11/8/2016 mang tên Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Hồng N, chuyển nhượng cho ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T ngày 08/01/2018. Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018 giữa ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1 và theo Hồ sơ kỷ thuật thửa đất, bản đồ hoàn công của Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai huyện C ngày 02/6/2025 (Sơ đồ đo vẽ kèm theo).
Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 4.456.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã tạm nộp, ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 4.456.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn 1.792.424.172 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng) là: [36.000.000 đồng + (992.424.172 đồng x 3%) ] = 65.772.725 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, bảy trăm hai mươi lăm đồng).
Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, xử:
Buộc ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đến ngày 24/6/2025 số tiền 1.792.424.172 đồng (Một tỷ bảy trăm chín mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi bốn nghìn, một trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.708.741.975 đồng (Một tỷ bảy trăm lẽ tám triệu, bảy trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng), nợ lãi trong hạn: 83.318.049 đồng (Tám mươi ba triệu, ba trăm mười tám nghìn, không trăm bốn mươi chín đồng), lãi quá hạn: 364.148 đồng (Ba trăm sáu mươi tư nghìn, một trăm bốn mươi tám đồng).
Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải thanh toán toàn bộ nợ lãi phát sinh kể từ ngày 25/6/2025 cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2024/7152572/HĐTD ký ngày 27/06/2024 với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Trong trường hợp ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ nợ vay, cụ thể:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 745, tờ bản đồ số 44, diện tích 200 m², địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 625051Sở Tài nguyên và Môi trường Q2 cấp ngày 11/8/2016 mang tên Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Hồng N, chuyển nhượng cho ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T ngày 08/01/2018. Theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/3277430/HĐBĐ ngày 12/01/2018 giữa ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q1 và theo Hồ sơ kỷ thuật thửa đất, bản đồ hoàn công của Chi nhánh Văn phòng đang ký đất đai huyện C ngày 02/6/2025 (Sơ đồ đo vẽ kèm theo).
- Trường hợp xử lý tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
[2]
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 4.456.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã tạm nộp, ông Lê Hồng Q, bà Lê Thị Thu T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 4.456.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
[3]
Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Lê Hồng Q và bà Lê Thị Thu T phải chịu 65.772.725 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm bảy mươi hai nghìn, bảy trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 32.183.000 đồng (Ba mươi hai triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000071 ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[4]
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 29/2025/DS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 29/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ-Lê Hồng Q+Lê Thị Thu T
