TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2025/DS-ST
Ngày 19/8/2025
V/v: Tranh chấp hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công;
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Viết Hoan;
- Ông Lê Đăng Thiện;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa;
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2025 về "Tranh chấp hụi", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đoàn Thành Đ, sinh năm 1959 và bà Đỗ Thị Đ1, sinh năm 1963, địa chỉ: Thôn C Y, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Bị đơn: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1955, địa chỉ: Thôn C Y, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ông bà có tham gia các dây hụi do bà C làm chủ như sau:
Dây 1: Thời gian chơi từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, gồm 03 kỳ, mỗi kỳ đóng 9.000.000 đ. Khi kết thúc bà C sẽ trả 10.000.000 đ một kỳ (hay còn gọi là chơi 9 ăn 10). Ông Đ là người trực tiếp đóng tiền, cụ thể:
Kỳ 1: Ngày 15/10/2023 đóng cho bà C 9.000.000 đ; Kỳ 2: Ngày 15/11/2023 đóng cho bà C 9.000.000 đ; Kỳ 3: Ngày 15/12/2023 đóng cho bà C 9.000.000 đ.
Tổng ba kỳ là 27.000.000 đ. Theo thoả thuận thì khi hết kỳ, bà C phải trả cho ông bà 30.000.000 đ, trong đó là 27.000.000 đ tiền gốc và 3.000.000 đ tiền lãi. Tuy nhiên hai bên có thoả thuận, trong số tiền lãi 3.000.000 đ, thì bà C chỉ phải đưa cho ông bà 2.000.000 đ, còn 1.000.000 đ bà C được hưởng tiền giấy bút. Như vậy, trong dây hụi này bà C phải trả cho ông bà số tiền 29.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 27.000.000 đ và 2.000.000 đ tiền lãi. Đến kỳ ông bà được lấy hụi thì bà C không trả mà mãi đến ngày 30/10/2024 bà C mới trả được 2.000.000 đ tiền gốc. Vì vậy trong dây hụi này bà chắt còn nợ ông bà 27.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 25.000.000 đ và 2.000.000 đ tiền lãi.
Dây 2: Thời gian chơi từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 11 năm 2023, gồm 02 kỳ, mỗi kỳ kỳ đóng 18.000.000 đ. Khi kết thúc, bà C sẽ trả 20.000.000 đ một kỳ (hay còn gọi là chơi 18 ăn 20). Bà Đ1 là người trực tiếp đóng tiền, cụ thể:
Kỳ 1: Ngày 05/10/2023 đóng cho bà C 18.000.000 đ; Kỳ 2: Ngày 05/11/2023 đóng cho bà C 18.000.000 đ.
Tổng hai kỳ là 36.000.000 đ. Theo thoả thuận thì khi hết kỳ, bà C phải trả cho ông bà 40.000.000 đ, trong đó là 36.000.000 đ tiền gốc và 4.000.000 đ tiền lãi. Tuy nhiên hai bên còn có thoả thuận, trong số tiền lãi 4.000.000 đ, thì bà C chỉ phải đưa cho ông bà 2.000.000 đ, còn 2.000.000 đ bà C được hưởng tiền giấy bút. Như vậy, thực tế bà C phải trả cho ông bà số tiền 38.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 36.000.000 đ và 2.000.000 đ tiền lãi. Đến kỳ ông bà được lấy hụi thì bà C không trả mà mãi đến ngày 15/8/2024 bà C mới trả được 2.000.000 đ tiền gốc. Vì vậy trong dây hụi này bà chắt còn nợ ông bà 36.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 34.000.000 đ và 2.000.000 đ tiền lãi.
Vì vậy ông bà yêu cầu bà C phải trả cho ông bà tổng số tiền của cả hai dây hụi là 63.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 59.000.000 đ và tiền lãi là 4.000.000 đ.
Tại phiên toà, ông Đ và bà Đ1 xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền 4.000.000 đ tiền lãi. Ông bà chỉ yêu cầu bà C phải trả cho ông bà số tiền gốc đã đóng hụi là 59.000.000 đ. Ngoài ra ông bà không có yêu cầu gì khác.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, bị đơn là bà Đặng Thị C trình bày: Thực tế bà và ông Đ, bà Đ1 có chơi hụi và thoả thuận như ông Đ, bà Đ1 đã trình bày là đúng thực tế. Bà là chủ hụi, đến thời điểm hiện tại bà còn nợ ông Đ, bà Đ1 tổng số tiền 63.000.000 đ, trong đó tiền gốc là 59.000.000 đ và tiền lãi là 4.000.000 đ. Bà và ông Đ, bà Đ1 đã chơi hụi với nhau nhiều năm, bà cũng làm chủ hụi rất nhiều năm, nhưng do tính toán sai nên dẫn đến thua lỗ. Hiện tại kinh tế của bà lâm vào tình trạng rất khó khăn, không có khả năng để trả nợ cho ông Đ, bà Đ1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm định tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hụi. Bị đơn cư trú tại thôn C Y, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hoá) theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Ông Đoàn Thành Đ, bà Đỗ Thị Đ1 và bà Đặng Thị C trình bày thống nhất: Ông Đ và bà Đ1 có chơi 02 dây hụi với bà C là chủ hụi, cụ thể: Dây 1 thời gian 03 tháng, chia làm 03 kỳ, mỗi kỳ đóng 9.000.000 đ, ông Đ, bà Đ1 đã đóng đủ 03 kỳ bằng 27.000.000 đ; Dây 2 thời gian 02 tháng, chia làm 02 kỳ, mỗi kỳ đóng 18.000.000 đ, ông Đ, bà Đ1 đã đóng đủ 02 kỳ bằng 36.000.000 đ. Tổng cộng cả hai dây hụi ông Đ và bà Đ1 đã đóng cho bà C tổng số tiền gốc là 63.000.000 đ. Quá trình sau đó bà C có trả được 02 lần tiền gốc, mỗi lần là 2.000.000 đ. Tổng cộng là 4.000.000 đ tiền gốc. Hiện tại bà C còn nợ ông Đ bà Đ1 tổng số tiền của hai dây hụi là 59.000.000 đ. Đây là sự thừa nhận của các bên và là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các khoản 2, 3 Điều 4 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường, xác định bà C là chủ hụi còn ông Đ, bà Đ1 là thành viên.
Tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường quy định:
Về nghĩa vụ của chủ họ: “Giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ”.
Vì vậy, việc bà C là chủ dây hụi đã thu của hội viên nhưng không giao phần hụi cho thành viên lĩnh hụi tại kỳ mở hụi là đã vi phạm nghĩa vụ chủ dây hụi.
Do đó, ông Đ, bà Đ1 khởi kiện yêu cầu bà C phải có nghĩa vụ trả số tiền gốc đã đóng hụi 59.000.000 đồng là có cơ sở được chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường.
Về lãi suất: Ông Đ và bà Đ1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị đơn là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, do đó miễn tiền án phí cho bị đơn. Nguyên đơn thuộc diện được miễn nộp tạm ứng án phí nên không phải trả lại án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các khoản 2, 3 Điều 4; khoản 3 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền lãi suất 4.000.000 đ.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Đặng Thị C có nghĩa vụ trả cho ông Đoàn Thành Đ và bà Đỗ Thị Đ1 số tiền 59.000.000 đ (năm mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đặng Thị C.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Ngọc Công |
Bản án số 29/2025/DS-ST ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA về tranh chấp hụi
- Số bản án: 29/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cfadf
