TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 29/2025/DS-PT Ngày: 30/5/2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
---
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Khắc Hoàng
- Các thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu
- Ông Hoàng Ngọc Tùng
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 06/TLPT-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025 do có kháng cáo của Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan): Anh Nguyễn Văn H; sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; theo Quyết định đưa ra xét xử phúc thẩm số 22/2025/QĐXX-PT ngày 10/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thông báo mở lại phiên tòa số 23/2025/TB-TA ngày 19/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị L; sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- - Bị đơn: Bà Trần Thị C; sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan): Anh Nguyễn Văn H; sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Trung K; chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã A (Vắng mặt).
- + Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn S; chức vụ: Chuyên viên phòng TM&MT huyện (Có mặt)
- + Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
- + Anh Nguyễn Thành V; sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- + Chị Nguyễn Thị P; sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- + Anh Nguyễn Văn H1; sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị H2; sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Lê Thị L: Ông Nguyễn Trọng N - Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).
- - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Huy K1 - Luật sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh N; địa chỉ: Số C, ngõ E đường C, khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2022, các bản khai tại hồ sơ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà bà Lê Thị L trình bày:
Thửa đất số 71, tờ bản đồ số 50, diện tích 400m²; địa chỉ: Thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh là của gia đình bà Lê Thị L đã sử dụng từ năm 1999 đến nay do chưa xác định được ranh giới, nên bà yêu cầu UBND xã A và UBND huyện Đ xác định ranh giới thửa đất cho gia đình, nhưng khi UBND xã A và UBND huyện Đ tiến hành đo đạc thì con trai bà Trần Thị C là anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Thành V cùng con gái là Nguyễn Thị H2 ra cản trở nói đây là đất của gia đình bà Trần Thị C nên cơ quan chức năng không thể đo đạc được. Ngày 23/12/2021 gia đình chị Trần Thị H3 và anh Trần Thành V1 thuê người vào lắp bể nước ở sau nhà bà L, khi bà L biết sự việc đã đề nghị tháo dỡ nhưng bà C và anh V1 vẫn không chịu và còn có hành vi lấn chiếm đất của gia đình bà L. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình bà Trần Thị C không được cản trở, lấn chiếm thửa đất gia đình bà L; yêu cầu Tòa án xác định mốc giới thửa đất giữa gia đình bà Lê Thị L và gia đình bà Trần Thị C tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 06/11/2023 bà Lê Thị L đã làm đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình, không yêu cầu Tòa án xác định mốc giới thửa đất giữa gia đình bà Lê Thị L và gia đình bà Trần Thị C tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh mà chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình bà Trần Thị C không được cản trở, lấn chiếm thửa đất của gia đình bà L.
* Bị đơn, đồng thời là nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H trình bày:
Vào khoảng thời gian năm 1987 đến 1988 hợp tác xã T2 kêu gọi và vận động nhân dân đi khai hoang trồng sắn và phủ kín đồi trọc gia đình bà Trần Thị C cùng nhiều gia đình khác vào rào vườn khai hoang phủ kín đồi trọc. Năm 1990 gia đình bà C vào dựng nhà ở hẳn cho tới nay. Đến năm 1994, Ban T2 vào đo đạc phần đất đã khai hoang được và bàn giao diện tích đất cằn sỏi đá trồng cây phủ kín đồi trọc, có thiết lập bản đồ giao đất cụ thể. Thành phần đo đạc gồm (Tứ, B, K2) hộ xã viên chứng kiến gồm Phương Nghệ tức là ông Nguyễn Văn N1, anh Huy P1 tức là Đào Trọng P2. Năm 2002 UBND xã A vào tiến hành lập biên bản kiểm tra, sau đó thu tiền nhà đất 750.000 đồng. Năm 2010, UBND xã A lập biên bản kiểm tra đợt hai, truy thu thuế đất ngoài hạng mức từ năm 2002 đến 2010 là 17 triệu đồng. Từ đó, gia đình bị đơn đóng nộp thuế hàng năm và có phiếu thu tiền, ghi vào sổ hộ gia đình cụ thể. Việc nguyên đơn được dựng nhà trong vườn của gia đình bị đơn là do năm 2002, bà Lê Thị L mượn gia đình bị đơn 10m² dựng lều tạm để bán hàng hóa và sống qua ngày, về sau có cơi nới và xây kiên cố hơn, thấy gia đình bà L khó khăn, mẹ góa con côi nên gia đình bà C đã cho mượn đất. Việc bà Lê Thị L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bà C không hề biết. Vì vậy, diện tích đất mà bà Lê Thị L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc quyền sử dụng của gia đình bà C.
* UBND xã A, huyện Đ trình bày:
Đất của gia đình bà Trần Thị C đang sử dụng là đất màu trại được HTX T2 giao để sản xuất, canh tác và thu thuế hàng năm trước 1993 và xây dựng nhà ở để làm ăn sinh sống đến năm 2011, UBND xã thành lập đoàn công tác kiểm tra đất của các hộ thuộc đất xã quản lý (đất ngoại hạng mức). Trong quá trình kiểm tra làm việc với hộ gia đình thì UBND xã, đoàn làm việc đã tiến hành trừ đất không sản xuất được từ mép đường L - A - T vào 30m vì do hoang đá nhiều, đồng thời hộ gia đình cũng yêu cầu trừ ra. Diện tích đất 1.500m² gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định 2005/2012 ngày 12/7/2012 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cấp sai thẩm quyền cho các hộ gia đình, cá nhân. Từ trước đến nay hộ gia đình chưa làm hợp đồng đất sản xuất với UBND xã, phần diện tích đang tranh chấp từ trước đến nay hộ gia đình không phải nộp thuế hàng năm. UBND xã không có hồ sơ giao đất của HTX T2 chuyển đến xã để lưu giữ, quản lý.
Nguồn gốc đất bà Lê Thị L: Bà L tự động ra ở từ năm 2002 trên phần diện tích đất xã quản lý không có các loại giấy tờ liên quan đến thửa đất. Đến năm 2012 theo quyết định 2005/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh H về việc cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình cá nhân được giao đất làm nhà ở sai thẩm quyền thì bà Lê Thị L cũng đã kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được hội đồng xét cấp cho bà Lê Thị L 400m² (Đất ở 200m²; đất CLN 200m²). Bà Lê Thị L tự động ra ở và xây nhà trên phần diện tích do xã quản lý, trong hồ sơ của bà Lê Thị L không có biên lai thu tiền cũng như các loại giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất tại thửa đất nói trên. Từ năm 2012 về trước bà L không nộp thuế hàng năm. Về kết quả đo đạc địa chính năm 2012 thửa đất của bà Lê Thị L là thửa số 26, tờ bản đồ 50, giấy CNQSD đất cấp năm 2012 là thửa số 71, tờ bản đồ 50 diện tích 400m², trong đó đất ở 200m², đất vườn 200m² do tại thời điểm cấp GCNQSD đất đơn vị đo đạc chưa biên tập xong bản đồ địa chính nên có sự sai lệch thửa đất và lý do sai khác về diện tích sau khi thông qua hội đồng tư vấn đất đai hợp xét trừ diện tích đất lưu không đường cũng như cắt giảm một số diện tích đất phía nam không đưa vào cấp GCNQSD đất cho hộ bà Lê Thị L. Bản đồ địa chính năm 2002 xã chưa đo đạc bản đồ địa chính đến năm 2011 xã mới tiến hành đo đạc bản đồ địa chính để phục vụ công tác cấp đổi GCNQSD đất cho nhân dân trên địa bàn xã. Trong biên bản kiểm tra năm 2011 giữa hộ gia đình và UBND xã đã thống nhất trừ từ đường vào 30m từ mép đường L - A – H4 vào vì do đá nhiều mà gia đình cũng đề nghị trừ ra, tại thời điểm kiểm tra con ông N1 không có mặt tại buổi kiểm tra đất ngoài hạn mức đất do xã quản lý, việc trừ 30m từ đường vào không giáp ranh với bà Lê Thị Lý D chiều sâu trừ đã vượt quá khuôn viên của bà Lê Thị L. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
* UBND huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh trình bày:
Qua xem xét hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho Lê Thị L được lưu lập tại Văn phòng Đ chi nhánh H5 - Đ nhận thấy: Bà Lê Thị L được cấp GCNQSD đất thông qua xử lý cấp đất sai thẩm quyền năm 2002 của xã Đ (nay xã A). Hồ sơ cấp GCNQSD đất cho bà Lê Thị L được lưu lập sau khi hoàn thành các bước về xử lý trách nhiệm cá nhân, tổ chức đối với UBND xã Đ cũ (nay xã A). Trên hồ sơ đã được xác lập kích thước rõ ràng, qua kiểm tra thực địa thửa đất và ý kiến của UBND xã A nhận thấy giữa đất của bà Lê Thị L và bà Trần Thị C (trước đây là đất do UBND xã Đ cũ quản lý) phần đất mà bà Trần Thị C đang cản trở nằm trong GCNQSD đất của bà Lê Thị L được cấp năm 2012, phần còn lại của khu tiếp giáp cũng đang là đất do UBND xã Đ cũ đang quản lý không liên quan đến đất của gia đình bà Trần Thị C. Quá trình cấp GCNQSD đất cho gia đình bà Lê Thị L cũng đã được Hội đồng tư vấn UBND xã Đ cũ soát xét và công bố công khai rộng rãi trên đìa bàn xã và không có ý kiến phản hồi về nội dung xin cấp GCNQSD đất cho bà Lê Thị L.
* Theo bản tự khai tại hồ sơ anh Nguyễn Thành V, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị H2 thống nhất trình bày:
Gia đình anh chị vào khai hoang phủ kín đồi trọc trước năm 1990 có hồ sơ văn bản đo đạc cụ thể gần nhất có chữ ký của bố tôi là ông Nguyễn Văn N1, phía Bắc giáp ruộng sản xuất, phía nam giáp đường A, phía đông giáp đường L, phía Tây giáp đường lối. Trên tổng diện tích 15.682.8m² gia đình anh chị đóng phí 750.000 đồng để được cấp đất ở. Diện tích còn lại gia đình tôi đóng thuế hàng năm cho UBND xã có phiếu thu và có sổ hộ gia đình đóng nộp. Trên tổng diện tích 15.682.8m² gia đình anh chị sản xuất và trồng cây từ xưa tới nay có một số cây bạch đàn đã 25 năm tuổi, ngoài ra gia đình anh chị còn xây bể nước và trồng các loại cây hoa màu ngay trên diện tích đang tranh chấp. Tại biên bản kiểm tra ngày 08/9/2010 viết trong biên bản đã giáp là không có nghĩa phải cách 30m. Việc cách 30m như trong biên bản là không đúng sự thật, các con số viết chồng và tẩy xóa con số không minh bạch. Biên bản kiểm tra ngày 13/8/2002 mà UBND xã tự lập có tên của bố anh chị mà không có chữ ký của bố anh chị là văn bản lập khống không có sự tham gia của bố anh chị và bất kỳ thành viên nào trong gia đình anh chị. Tại biên bản vào tháng 8 năm 2019 cũng đã khẳng định vườn đất gia đình anh chị đang sử dụng chưa có bất kỳ biên bản thu hồi nào từ chính quyền các cấp. Trong quá trình thẩm định đề nghị Tòa án không chỉ lấy ý kiến của thôn trưởng, cấp xã và nhất thiết phải lấy ý kiến các hộ gia đình cụm dân cư số 5 tại nơi diện tích đất đang tranh chấp. Về phía nguyên đơn bà Lê Thị L, năm 2002 gia đình anh chị cho mượn một diện tích đất nhỏ khoảng 10m² làm lều quán bán nước sau đó có cơi nới và làm kiên cố hơn, việc này bà L cũng đã thừa nhận mượn đất của gia đình anh chị nên việc bà L được cấp GCNQSD đất là sai hoàn toàn về quy trình, thủ tục vì chưa có sự đồng ý và chưa có chữ ký giáp ranh của gia đình anh chị, phiếu lấy chữ ký khu dân cư là giả mạo, viết sai tên không phải ở cụm khu dân cư tại thửa đất đang tranh chấp, kết quả đo đạc địa chính thửa đất số 0 tờ bản đồ 50 thể hiện 1.142m² không đúng với GCNQSD đất cấp cho bà L về số thửa cũng như diện tích, lập hồ sơ cấp GCNQSD đất mà không thực hiện việc đo đạc địa chính cắm mốc là sai với quy định của pháp luật. Vì vậy, các anh chị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị Tòa án chuyển hồ sơ yêu cầu UBND huyện Đ thu hồi GCNQSD đất đã cấp cho bà L.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H1, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã gửi các văn bản làm việc yêu cầu trình bày lời khai về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị L và bà Trần Thị C nhưng anh H1 không có mặt tại địa phương, Tòa án đã làm việc với mẹ đẻ anh H1 là bị đơn bà Trần Thị C được bà C cung cấp số điện thoại và Tòa án đã liên lạc trao đổi nội dung vụ án, anh H1 trình bày anh sự việc tranh chấp giữa bà Lê Thị L và bà Trần Thị C không liên quan đến anh, Tòa án yêu cầu anh cung cấp địa chỉ và trình bày rõ quan điểm của mình gửi Tòa án nhưng anh không cung cấp địa chỉ cũng không trình bày ý kiến gửi Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DSST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 58, khoản 1 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 155, 163, 164 và 169 Bộ luật dân sự; khoản 6 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, Điều 99, 100, 101 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1, 2 Điều 12, khoản 1, 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L. Buộc bà Trần Thị C, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Thành V, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn H1 không được cản trở, lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà Lê Thị L đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m² tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Giao cho bà Lê Thị L sở hữu 60 cây keo của bà Trần Thị C trồng trị giá 3.970.000 đồng (Ba triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng) và các loại tài sản khác có trên đất (kể cả các tài sản đã định giá trị 0 đồng).
- Buộc bà Lê Thị L phải trả cho bà Trần Thị C số tiền 3.970.000 đồng (Ba triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng) tương đương giá trị tài sản được nhận.
Buộc bà Trần Thị C phải trả cho bà Lê Thị L số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chổ và thẩm định giá tài sản.
Án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 25/11/2022 người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Văn H làm đơn kháng cáo đề nghị hủy bỏ toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Hủy Giấy CNQSD đất số BN814958 do UBND huyện Đ cấp cho bà Lê Thị L ngày 27/12/2012.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện; người đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, không bổ sung chứng cứ, tài liệu gì thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng như người bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến quan điểm đã trình bày tại cấp sơ thẩm.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa, HĐXX, thư ký phiên tòa đã đề nghị Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Đình chỉ đối với yêu cầu Tòa án xác định mốc giới thửa đất giữa gia đình bà Lê Thị L và gia đình bà Trần Thị C tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 26 BLTTDS; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Xét nguồn gốc, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m²; hiện trạng sử dụng đất và yêu cầu kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét hủy bỏ toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; hủy Giấy CNQSD đất số BN814958 do UBND huyện Đ cấp cho bà Lê Thị L ngày 27/12/2012.
Thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m² trước năm 2002 nằm trong diện tích đất gia đình bà Trần Thị C được HTX T2 giao để sản xuất, canh tác. Đến năm 2002, sau khi kiểm tra về việc sử dụng đất tại thực địa thì UBND xã và T2 thống nhất trừ từ đường L - A - T vào 30m gia đình bà C không được trồng cây, canh tác, cho nên tổng diện tích bị trừ đi là 1.500m². Đồng thời tại biên bản kiểm tra về việc sử dụng đất thực địa ngày 08/9/2010, xác định vị trí thửa đất của bà Trần Thị C cách hành lang đường L - A - T vào 30m (đã trừ đi tổng diện tích 1.500m²) và ông Nguyễn Văn N1 (chồng bà Trần Thị C) cũng đã ký xác nhận. Vì vậy, có căn cứ xác định diện tích đất 1.500m² tính từ đường L - A - T vào 30m gia đình bà Trần Thị C đã trừ ra và không thuộc quản lý, sử dụng của gia đình bà Trần Thị C từ năm 2002.
Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị C không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai, Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết một số điều luật của luật Đất đai đối với diện tích đất đang tranh chấp. Căn cứ công văn số 579/BC-UBND ngày 04/11/2022 của UBND xã A và Công văn số 291/CV-CCTKV ngày 07/11/2022 của Chi cục thuế khu vực H6 – Đ xác định bà Trần Thị C không nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất đang tranh chấp.
Căn cứ lời khai của bà Lê Thị L, bà Trần Thị C và Công văn số 579/BC-UBND ngày 04/11/2022 của UBND xã A, thì bà Lê Thị L đã sử dụng và xây dựng nhà, sinh sống trên diện tích đất đang tranh chấp khoảng từ năm 2000. Đến năm 2002, diện tích đất 1.500m² (trong đó có diện tích đất 400m² đang tranh chấp) được UBND xã, HTX T2 và gia đình bà Trần Thị Chín T ra cho nên diện tích đất đó thuộc diện tích đất do UBND xã quản lý. Căn cứ hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với bà Lê Thị L, UBND xã đã xác nhận diện tích đất đang tranh chấp được UBND xã giao cho bà Lê Thị L năm 2002. Từ năm 2002 đến 2012, bà Lê Thị L sinh sống và sử dụng diện tích đất đó ổn định, không xảy ra tranh chấp phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và thuộc trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Quyết định 2005/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh H. Vì vậy, việc cấp GCNQSDĐ cho bà Lê Thị L là đảm bảo theo quy định tại khoản 6 Điều 50 Luật đất đai năm 2003. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị L căn cứ hồ sơ cấp GCNQSD đất do UBND xã, UBND huyện cung cấp và lời khai có tại hồ sơ vụ án, nhận thấy trình tự, tủ tục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đảm bảo theo quy định tại Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2023 và ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ đối với toàn bộ thửa đất đang tranh chấp và thửa đất gia đình bà C đang quản lý, sử dụng tại thôn L, xã A huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện:
Thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m² đang tranh chấp đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Lê Thị L và Thửa đất số 38, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.500m² được cấp GCNQSDĐ cho bà Trần Thị C cách nhau 103m nên hai thửa đất này không có tiếp giáp về ranh giới, mốc giới thửa đất.
Về tài sản trên đất, cấp sơ thẩm đã làm rõ 30 cây keo có đường kính từ 20cm đến 40cm, 30 cây keo có đường kính dưới 20cm là do bà Trần Thị Chín T1, và theo kết quả thẩm định giá tài sản ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ; giá trị 60 cây keo là 3.970.000 đồng. Ngoài ra còn có một số tài sản khác như bể nước, nền láng xi măng nhưng không còn giá trị.
Từ những phân tích trên, HĐXX có sơ sở khẳng định thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m² mà UBND huyện Đ cấp cho bà Lê Thị L là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao số cây keo cho bà L được quyền sở hữu sử dụng, buộc bà L phải thanh toán số tiền 3.970.000 đồng giá trị 60 cây keo cho bà Trần Thị C là phù hợp các quy định của Luật đất đai và BLDS.
[2.2]. Về sai sót trong quá trình giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm:
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 06/11/2023 bà Lê Thị L đã làm đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình, không yêu cầu Tòa án xác định mốc giới thửa đất giữa gia đình bà Lê Thị L và gia đình bà Trần Thị C tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng khoản 2 Điều 244 BLTTDS để đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn là thiếu sót.
[3] Về chi phí tố tụng: Các yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá. Việc Tòa án sơ thẩm đã tuyên buộc bà Trần Thị C phải chịu số tiền thẩm định định giá là 6.500.000 đồng. Số tiền trên bà Lê Thị L đã tạm nộp đầy đủ trước khi thẩm định nên bà Trần Thị C phải trả lại cho bà L số tiền 6.500.000 đồng là đúng quy định. Đối trừ nghĩa vụ thanh toán tiền giá trị cây keo của bà L, bà Trần Thị C còn phải trả lại cho bà Lê Thị L số tiền là 2.530.000đ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6; điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo, bị đơn Trần Thị C là người cao tuổi nên nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu nghĩa vụ thanh toán giá trị tiền cây cho bà Trần Thị C nên cấp sơ thẩm buộc bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của Đại diện theo ủy quyền của bị đơn không được chấp nhận nhưng bị đơn là người cao tuổi được miễn án phí nên đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng được miễn án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 không chấp nhận nội dung kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 58, khoản 1 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273; điểm c khoản 1điều 217, 218 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 155, 163, 164 và 169 Bộ luật dân sự; Khoản 6 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, Điều 99, 100, 101 và 203 Luật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1, 2 Điều 12; Khoản 1, 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L. Buộc bà Trần Thị C, anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Thành V, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Văn H1 không được cản trở, lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà Lê Thị L đối với thửa đất số 71, tờ bản đồ 50, diện tích 400m² tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Giao cho bà Lê Thị L sở hữu 60 cây keo của bà Trần Thị C trồng trị giá 3.970.000 đồng (Ba triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng) và các loại tài sản khác có trên đất (kể cả các tài sản đã định giá trị 0 đồng).
- Buộc bà Trần Thị C phải trả cho bà Lê Thị L số tiền 6.500.000đ đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) tiền chi phí thẩm định, định giá. Đối trừ nghĩa vụ thanh toán tiền giá trị cây keo của bà L, bà Trần Thị C còn phải trả lại cho bà Lê Thị L số tiền là 2.530.000 đồng (Hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) .
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L về việc yêu cầu Tòa án xác định mốc giới thửa đất giữa gia đình bà Lê Thị L và gia đình bà Trần Thị C tại thôn L, xã A, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh
- Bà Lê Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai thu số 0013050, ngày 21 tháng 3 năm 2022. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Trần Thị C và miễn án phí dân sự phúc thẩm cho đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Văn H.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Khắc Hoàng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Hà Ngân BùiQuang Năng | Trần Khắc Hoàng |
Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 29/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ THỊ L - TRẦN THỊ C TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
