Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/DS-PT

Ngày: 07 - 02 - 2025

V/v: “tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan.

Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải;

Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 417/2024/TLPT- DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS – ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Cái Răng có bị đơn bà Phùng Thị Yến X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Thanh T kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 549/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 07/2025/TB-TA ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Tường T1, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số I, Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thảo T2, sinh năm: 1985; địa chỉ: Số H, đường T, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Phùng Thị Yến X, sinh năm: 1973; địa chỉ: Số A, khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm: 1983; địa chỉ: Số B, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thị Thanh T, sinh năm: 1969; địa chỉ: Số C, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  2. Người kháng cáo: Bà Phùng Thị Yến X, bà Phùng Thị Thanh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thảo T2 trình bày:

Giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận việc mượn tiền, bắt đầu từ ngày 01/6/2021 đến ngày 06/02/2023 với tổng số tiền là 398.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi tám triệu đồng), hình thức mượn tiền là thông qua việc chuyển khoản tổng cộng là 39 lần cho bà Phùng Thị Yến X. Tuy nhiên, bị đơn có chuyển khoản trả nợ 02 lần vào ngày 28/9/2023 và ngày 29/12/2023 với tổng số tiền là 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) nên bị đơn còn nợ lại là 356.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu đồng). Từ đó đến nay bị đơn không còn trả bất kỳ khoản tiền nào nữa nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền gốc còn nợ là 356.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu đồng) và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 06/02/2023 đến ngày 20/11/2023 là 25.995.600 đồng (Hai mươi lăm triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn, sáu trăm đồng).

Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 03/7/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Phùng Thị Yến X trả số tiền gốc là 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng) và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 06/02/2023 đến ngày 20/11/2023 là 25.995.600 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 21/11/2023 đến ngày 03/7/2024 nhưng tiền lãi chậm trả được tính tiếp từ ngày 04/7/2024 đến khi bị đơn trả dứt nợ cho nguyên đơn.

Theo đơn phản tố ngày 07/6/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Y trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn không có giao dịch vay mượn tiền như nguyên đơn yêu cầu trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, do nguyên đơn có chuyển vào tài khoản của bị đơn tổng cộng 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng) là số tiền mà bà Phùng Thị Yến X nhận dùm cho bà Phùng Thị Thanh T và đã giao hết số tiền 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng) cho bà Phùng Thị Thanh T do bà Phùng Thị Thanh T không có số tài khoản nên mới nhờ số tài khoản của bà Phùng Thị Yến X để bà Phùng Thị Yến X nhận dùm cho bà Phùng Thị Thanh T. Đồng thời, giữa bà Lưu Thị Tường T1 và bà Phùng Thị Yến X cũng không có ký bất kỳ giấy tờ vay mượn nào và cũng không có ký biên nhận tiền của bà Lưu Thị Tường T1. Do đó, bị đơn không đồng ý trả nợ gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Thanh T trình bày: Bà thừa nhận có nhờ số tài khoản của bà X để nguyên đơn chuyển khoản cho bà mượn số tiền là 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng). Tuy nhiên, đây là tiền cho mượn nên bà không đồng ý trả lãi, bà chỉ đồng ý trả lại số nợ gốc cho nguyên đơn với số tiền là 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng). Ngoài ra, do bà bận công việc nên xin được vắng mặt trong tất cả các phiên họp và phiên tòa các cấp.

Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau nên vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS – ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Thị Tường T1.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Phùng Thị Yến X.
  3. Về nợ:

    Bị đơn bà Phùng Thị Yến X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Lưu Thị Tường T1 tổng số nợ gốc và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 22/8/2024 là 370.048.120 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, một trăm hai mươi đồng), trong đó:

    • + Nợ gốc: 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng).
    • + Tiền lãi chậm trả là: 22.048.120 đồng (Hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, một trăm hai mươi đồng).
    • + Tiền lãi chậm trả được tính tiếp từ ngày 23/8/2024 đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.

    Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả đến khi bị đơn trả hết số tiền 370.048.120 đồng cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Thời hạn và phương thức thanh toán sẽ do Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ điều chỉnh.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời hiệu kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 27/08/2024 bị đơn bà Phùng Thị Yến X yêu cầu Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, vì bà không có vay mượn tiền của nguyên đơn, buộc bà T trả số tiền 348.000.000 đồng cho nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Thanh T kháng cáo yêu cầu Tòa án sửa bản án sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, vì bị đơn không có vay tiền của nguyên đơn, bà T đồng ý trả số tiền 348.000.000 đồng cho nguyên đơn, không đồng ý trả lãi suất.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung kháng cáo:

Nhận thấy: Giữa bà Lưu Thị Tường T1 và bà Phùng Thị Yến X có thực hiện giao dịch chuyển số tiền là 363.000.000 đồng 39 lần và 01 lần giao tiền mặt số tiền 35.000.000 đồng. Tổng cộng là 398.000.000 đồng. Bà Phùng Thị Yến X1 chuyển khoản 02 lần để trả nợ cho bà Lưu Thị Tường T1 số tiền là 42.000.000 đồngvào các ngày 29/12/2022 trả 2.000.000 đồngvà ngày 28/09/2023 trả 40.000.000 đồng. Bà Phùng Thị Yến X còn nợ số tiền gốc là 356.000.000 đồngnên bà T1 yêu cầu bà X trả nợ gốc và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 22/08/2024 với tổng số tiền là 370.048.120 đồng là có cơ sở chấp nhận. Bà Phùng Thị Yến X cho rằng hoàn toàn không có mượn tiền của bà T1 mà tổng số tiền bà T1 đã chuyển cho bà là nhận dùm cho bà Phùng Thị Thanh T.

Bà Phùng Thị Thanh T xin được trả nợ cho bà T1 vì bà T cho rằng bà X nhận tiền dùm cho bà T bà X, bà T đồng ý trả nợ theo yêu cầu của bà T1 tổng số tiền là 370.048.120 đồng.

Căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án xác địnhbà Phùng Thị Y1 Xuânthể hiện bà Phùng Thị Yến X đã nhận số tiền chuyển khoản tổng cộng 39 lần với số tiền là 348.000.000 đồng. Đối với số tiền 35.000.000 đồng bà Lưu Thị Tường T1 đã giao cho bị đơn bằng tiền mặt nhưng không có chứng cứ chứng minhvà bà Lưu Thị Tường T1 không yêu cầu trả khoản nợ trên. Căn cứ biên bản hòa giải ngày 03/07/2024 các đương sự đã thống nhất số nợ gốc là 348.000.000 đồng.

Căn cứ theo quy định tại điều 116 và điều 119 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nhận thấy, giữa bà Lưu Thị Tường T1 và bà Phùng Thị Yến X có giao dịch chuyển khoản tổng cộng 39 lần với số tiền 348.000.000 đồng, bà X đã chuyển khoản trả nợ 02 lần với tổng số tiền là 42.000.000 đồng cho bà T1 thể hiện giữa 02beeb có thỏa thuận giao dịch với nhau. Bà Phùng Thị Yến X cho rằng không có mượn tiền của bà T1 mà chỉ nhận tiền dùm bà T nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét.

Bà Lưu Thị Tường T1 đã cung cấp các chứng cứ chứng minh đã chuyển khoản số tiền 348.000.000 đồng. Lời khai nhận của bà Phùng Thị Yến X và bà Phùng Thị Thanh T trùng khớp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Tường T1 yêu cầu bà X trả nợ là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính tiền lãi chậm trả số tiền là 22.048.120 đồng của bà Lưu Thị Tường T1 là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bà X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số nợ gốc và tiền lãi chậm trả tính đến ngày 22/8/2024 là 370.048.120 đồng, trong đó nợ gốc là 348.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 22.048.120 đồng theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà Phùng Thị Yến X2 người có quyền lợi và nghia vụ liên quan bà Phùng Thị Thanh T kháng cáo nhưng xét thấy, không có cơ sở nên không có căn cứ để xem xét kháng cáo.

Từ những phân tích, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm số của Tòa án nhân dân quận Cái Răng thành phố Cần Thơ, không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị Yến X và bà Phùng Thị Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa xác định bị đơn yêu cầu Hội đông xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 348.000.000đồng và lãi suất vì bị đơn không có mượn hay vay tiền của nguyên đơn, việc vay mượn là giao dịch giữa nguyên đơn và bà Phùng Thị Thanh T, bị đơn chỉ cho mượn tài khoản để nhận tiền thay cho bà T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà T phải có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn;

[1.1] Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời thừa nhận của bị đơn có cơ sở xác định trong khoản thời gian từ 01/6/2021 đến ngày 06/02/2023 nguyên đơn có chuyển tiền vào tài khoản của bị đơn 39 lần với tổng số tiền 398.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng bản thân nhận số tiền này là nhận thay cho bà T, sau khi nhận tiền bị đơn đã giao lại hết cho bà T. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà T1 không thừa nhận có cho bà T vay mượn số tiền này và bị đơn cũng không có chứng cứ gì chứng minh có sự thỏa thuận việc bà nhận tiền thay cho bà T.

[1.2] Bị đơn cho rằng nguyên đơn tự ý chuyển tiền vào tài khoản của bà chứ bị đơn không có giao dịch vay mượn tiền với nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà trả tiền là không có căn cứ và bà cũng không có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ là các giấy nhận tiền, chuyển tiền (số bút lục từ 193 - 233) và bị đơn cũng thừa nhận có nhận số tiền nguyên đơn chuyển nhưng bị đơn không có chứng cứ chứng minh mình có quyền sở hữu số tiền này cũng như có phát sinh giao dịch dân sự nào với nguyên đơn nên việc bị đơn chiếm giữ số tiền của nguyên đơn là không có căn cứ pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự “chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Như vậy, đối chiếu với quy định này nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận là có căn cứ pháp luật.

[1.3] Theo hồ sơ thể hiện, vào ngày 28/9/2023 và ngày 29/12/2023 bị đơn có chuyển tiền cho nguyên đơn 02 lần với tổng số tiền 42.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng số tiền này là tiền bà T trả cho nguyên đơn trong khoản vay khác nhưng nguyên đơn không thừa nhận và bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh cho trình bày này nên cấp sơ thẩm khấu trừ số tiền 42.000.000 đồng vào tổng số tiền bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là có cơ sở. Như vậy, số tiền bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là 398.000.0000 đồng – 42.000.000 đồng = 356.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 03/7/2024 nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền 348.000.000 đồng, xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và có lợi cho bị đơn nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 348.000.000 đồng là có căn cứ.

[2] Đối với kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc buộc bà T có trách nhiệm trả số tiền 348.000.000 đồng cho nguyên đơn. Xét thấy, như đã nhận định trên bị đơn chiếm giữ tiền của nguyên đơn không có căn cứ pháp luật nên nghĩa vụ trả lại tiền cho nguyên đơn là của bị đơn. Nguyên đơn không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ này cho bà T đồng thời các bên cũng không có văn bản thỏa thuận việc chuyển giao nghĩa vụ trả tiền từ bị đơn sang bà T nên yêu cầu kháng cáo này của bà X và bà T là không có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu không tính lãi suất trên số tiền 348.000.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, nguyên đơn cho rằng giao dịch dân sự giữa nguyên đơn với bị đơn là vay tài sản, mức lãi suất và thời hạn vay các bên có thỏa thuận nhưng không lập thành văn bản do có mối quan hệ họ hàng. Tuy nhiên, bị đơn không thừa nhận có vay, mượn tiền của nguyên đơn và nguyên đơn cũng không có chứng cứ nào chứng minh tiền nguyên đơn chuyển cho bị đơn là tiền vay mượn, cũng không có chứng cứ thể hiện có thỏa thuận thời hạn trả tiền, lãi suất. Tại phiên tòa, đại diện của bị đơn cho rằng giữa nguyên đơn và bà T có mối quan hệ vay mượn tiền với nhau nhưng nguyên đơn không thừa nhận có cho bà T vay tiền và bà T cũng không thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn, số tiền này là tiền mượn không có thỏa thuận thời gian trả nên trình bày của đại diện bị đơn cũng không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, nguyên đơn chưa chứng minh được số tiền chuyển cho bị đơn là từ giao dịch dân sự vay mượn và như đã nhận định trên số tiền bị đơn có được là chiếm giữ tài sản người khác không có căn cứ pháp luật nên yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn là không có căn cứ, do dó yêu cầu kháng cáo này của bị đơn là có cơ sở chấp nhận.

[4] Ngoài ra, trong quá trình giải quyết cấp sơ thẩm xác định ý kiến của bị đơn về việc không đồng ý trả số tiền 348.000.000 đồng cho nguyên đơn là yêu cầu phản tố là không đúng. Vì phản tố thực chất là việc bị đơn khởi kiện ngược lại nguyên đơn.Trong vụ án này bị đơn chỉ trình bày không đồng ý trả tiền cho nguyên đơn, nội dung này không mang tính chất bù trừ nghĩa vụ của bị đơn với nguyên đơn. Do đó, cấp sơ thẩm xác định ý kiến của bị đơn là yêu cầu phản tố và buộc bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là không đúng với quy định của pháp luật.

[5] Từ những nhận định trên cho thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn và bà T có cơ sở chấp nhận một phần.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ có cơ sở chấp nhận một phần.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phùng Thị Yến X, bà Phùng Thị Thanh T không phải chịu. Bà X, bà T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/DS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, bà Phùng Thị Yến X.
    2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Phùng Thị Thanh T.
    3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc bị đơn bà Phùng Thị Yến X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Lưu Thị Tường T1 số tiền 348.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng).

    Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả đến khi bị đơn trả hết số tiền 370.048.120 đồng cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Thời hạn và phương thức thanh toán sẽ do Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ điều chỉnh.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn bà Phùng Thị Yến X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với tổng số tiền là 17.400.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm ngàn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí bị đơn đã nộp 8.700.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm nghìn đồng) thành một phần án phí. Bị đơn phải nộp thêm số tiền là 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

    Nguyên đơn bà Lưu Thị Tường T1 phải chịu: 1.102.404 đồng (một triệu một trăm lẻ hai nghìn bốn trăm lẻ bốn đồng). Bà T1 được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003350 ngày 10/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà T1 được nhận lại số tiền 8.397.596 đồng (tám triệu ba trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi sáu đồng).

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phùng Thị Yến X, bà Phùng Thị Thanh T không phải chịu. Bà X, bà T mỗi người được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số 0003672, 0003671 cùng ngày 06/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và thời hiệu Thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - TAND quận Cái Răng;
  • - Chi Cục THADS quận Cái Răng;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản

  • Số bản án: 29/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thi - Xuân - T/c đòi lại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger