|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 29/2025/DS-PT Ngày 05/02/2025 V/v tranh chấp đòi lại tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Ông Nguyễn Văn Dũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 tháng 01, ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 190/2024/TLPT-DS về việc tranh chấp đòi lại tài sản.
Do bản án số 198/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 253/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số H, đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Duy N, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Duy N: Ông Trần Hùng D, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024). (có mặt)
- Người làm chứng:
- Bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Trần Ngọc L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Nguyễn Bảo T1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số H, đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Ông Quách Minh T2, sinh năm 1988. (vắng mặt)
- Bà Tiêu Thị Dũng K, sinh năm 1987. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ở đường N, Khu đô Thị E, Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
· Người kháng cáo: Ông Phạm Duy N, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2024 của bà Trần Thị S trình bày:
Vợ chồng ông Dương Minh M, bà Phạm Thanh H có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo T1 thửa đất số 83, tờ bản đồ số 26, diện tích 2.386,6m², loại đất trồng cây lâu năm và thửa đất số 77, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.984,6m², loại đất trồng cây lâu năm. Khi ông T1 vào thăm đất thì bà Trần Thị Bích T cho rằng thửa đất số 77 là của mẹ bà Bích T và yêu cầu bà H phải trả tiền đất thì gia đình bà T mới cho bà H giao đất cho ông T1.
Vợ chồng bà H mới vay tiền của bà S để trả tiền đất cho gia đình bà T. Vào ngày 20/10/2022, anh ruột của bà H là ông Phạm Duy N có nhận của bà S số tiền 50.000.000 đồng để trả cho gia đình bà T. Do đến nay ông Phạm Duy N không trả lại tiền nên bà Trần Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N trả cho bà S số tiền 50.000.0000 đồng.
- Theo trình bày của ông Trần Hùng D và ông Phạm Duy N trong quá trình giải quyết vụ án:
Ông Phạm Duy N có nhận 50.000.000 đồng của bà Trần Thị S theo Biên nhận ngày 20/12/2022, nhưng cho rằng nhận số tiền này để giải quyết việc tranh chấp thửa đất số 77, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.984m² với gia đình bà Trần Thị Bích T. Ông N xác định không có vay tiền của bà S và do tranh chấp đã giải quyết xong, các bên đã giao nhận đất nên ông N không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà S.
- Tại bản án số 198/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã xử buộc ông Phạm Duy N trả cho bà Trần Thị S số tiền 50.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 20/12/2022. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 11/9/2024, ông Phạm Duy N kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S về việc đòi ông N trả số tiền 50.000.000 đồng.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự cũng không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Phạm Duy N là người có quyền kháng cáo; đã làm đơn kháng cáo theo đúng quy định về hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo tại Điều 271, Điều 272 và Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thừa nhận có nhận số tiền 50.000.000 đồng của nguyên đơn theo Biên nhận ngày 20/12/2022 nên Hội đồng xét xử xác định tình tiết này là sự thật theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Theo đơn khởi kiện, bà Trần Thị S trình bày có cho vợ chồng ông Dương Minh M, bà Phạm Thanh H vay tiền để trả tiền đất cho gia đình bà Trần Thị Bích T và ông Phạm Duy N là người nhận số tiền 50.000.000 đồng của bà S theo Biên nhận ngày 20/12/2022 để trả cho gia đình bà T. Còn ông N trình bày việc nhận tiền là để giải quyết việc tranh chấp thửa đất số 77, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.984,6m² với gia đình bà T và do tranh chấp đã giải quyết xong nên không đồng ý trả tiền lại cho bà S.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Các đương sự đều thừa nhận khi vợ chồng ông Dương Minh M, bà Phạm Thanh H chuyển nhượng cho ông Nguyễn Bảo T1 thửa đất số 83, tờ bản đồ số 26, diện tích 2.386,6m² và thửa đất số 77, tờ bản đồ số 26, diện tích 1.984,6m² thì có tranh chấp của gia đình bà Trần Thị Bích T đối với thửa đất số 77. Tại Biên bản hoà giải ngày 29/9/2022 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng thể hiện bà Nguyễn Thị Thu N1 và ông Phạm Duy N (là mẹ và anh ruột bà H) đồng ý giao số tiền 120.000.000 đồng cho gia đình bà T vào ngày 30/12/2022 để chấm dứt tranh chấp.
[4.2] Theo ý kiến của bà Trần Thị Bích T tại bản tự khai ngày 14/8/2024, biên bản lấy lời khai ngày 06/01/2025 và tại phiên tòa phúc thẩm thì bà Trần Thị S có gọi điện thoại cho bà T đề nghị nếu đồng ý nhận số tiền 120.000.000 đồng thì bà S sẽ giao tiền cho ông N để ông N giao lại cho gia đình bà T. Ý kiến này của bà T phù hợp với nội dung Biên nhận do ông N lập ngày 20/12/2022 là “....Căn cứ vào thoả thuận về việc mua bán đất. Tôi nhận 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để giải quyết tranh chấp đất thửa số 77, tờ bản đồ số 26, diện tích đất là 1.984,6m²".
[4.3] Thực tế, sau khi nhận số tiền trên từ bà S thì ông N cũng đã giao đủ 120.000.000 đồng cho gia đình bà T theo Biên bản ngày 30/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Tại phiên toà phúc thẩm, bà T cũng xác định không còn tranh chấp thửa đất số 77 sau khi nhận số tiền này của ông N. Do đó, không có cơ sở xác định ông N đã vay số tiền 50.000.000 đồng của bà S theo Biên nhận ngày 20/12/2022. Án sơ thẩm chỉ căn cứ việc bị đơn có nhận số 50.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 20/12/2022 và đến nay vẫn chưa trả lại cho nguyên đơn để xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn là không đúng, không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[6] Do án sơ thẩm bị sửa nên án phí được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án như sau:
[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu 2.500.000 đồng, do nguyên đơn là người cao tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên Hội đồng xét xử cho nguyên đơn được miễn nộp khoản tiền này; bị đơn không phải chịu.
[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Duy N.
- Sửa bản án số 198/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng như sau:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị S về việc buộc ông Phạm Duy N trả cho bà Trần Thị S số tiền là 50.000.000 đồng theo Biên nhận ngày 20/12/2022.
2.2. Về án phí, chi phí tố tụng:
- - Bà Trần Thị S được miễn nộp 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Phạm Duy N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ông Phạm Duy N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, trả lại cho ông Phạm Duy N số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007368 ngày 20/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vĩnh Khương |
Bản án số 29/2025/DS-PT ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 29/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi lại tài sản
