Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-PT

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Thuỷ- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý 13/2024/HSPT ngày 22 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Doãn Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Doãn Văn S, sinh năm: 1984, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Doãn Văn L (đã chết); con bà: Bùi Thị S1, sinh năm 1946; có vợ là: Trần Thị M; có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; nhân thân: Ngày 19/12/2023, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; hiện đang giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Trong vụ án còn có 01 bị cáo, các bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 2 năm 2023, Doãn Văn S, sinh năm 1984, HKTT: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định gặp, quen biết với chị Phạm Thị H, sinh năm 1986, HKTT: Phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và được chị H giới thiệu công việc đi giới thiệu, bán sản phẩm dinh dưỡng của Công ty trách nhiệm hữu hạn V1, có địa chỉ ở: ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương (gọi tắt là Công ty V1). Chị H là người nhập sản phẩm dinh dưỡng từ Công ty V1 với giá ưu đãi rồi bán cho S, còn S thì đi bán lại cho người khác với giá cao hơn để hưởng lợi nhuận. S đồng ý và đã cùng với một số người cũng do chị H giới thiệu để làm công việc trên, bao gồm: một người tên N (không xác định được họ, tên đệm, tuổi và địa chỉ cụ thể) là người đi tìm địa điểm, mời mọi người tham dự các buổi giới thiệu sản phẩm; Cao Thị Hồng N1, sinh năm 2002, HKTT: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định là người cùng đi giới thiệu và bán sản phẩm với S; anh Bùi Văn N2, sinh năm 1983, HKTT: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định thì lái xe ô tô. Mỗi một buổi giới thiệu và bán sản phẩm xong, S sẽ trả N tiền thuê địa điểm, trả Ngát tiền công cùng đi bán hàng, trả anh N2 tiền công lái xe ô tô; phần còn lại S sẽ chia cho N 40% và S hưởng 60%.

Ngày 07/4/2023, N đến gặp ông Phạm Đức T, sinh năm 1955, HKTT: thôn H, xã T, huyện V là Chi hội trưởng Chi hội người cao tuổi thôn H, xã T gửi giấy mời với nội dung “Tư vấn sức khỏe và tặng quà miễn phí của Công ty TNHH VI” để xin tổ chức buổi tư vấn sức khỏe và tặng quà miễn phí cho 20 người cao tuổi nhân dịp đầu xuân năm 2023 và đưa cho ông T 1.500.000 đồng để chuẩn bị Hội trường. Ông T đã gửi giấy mời đến những người cao tuổi trong Chi hội của mình gồm: Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1956; bà Trương Thị P, sinh năm 1960; bà Đào Thị N4, sinh năm 1949; bà Đào Thị R, sinh năm 1957; bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1952; bà Đàm Thị A, sinh năm 1952; bà Phạm Thị T1, sinh năm 1955; bà Ngô Thị B, sinh năm 1958; bà Trần Thị L1, sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1948; bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1962; ông Lê Văn Q, sinh năm 1951; bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1960; bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1954; bà Phạm Thị T2, sinh năm 1955; bà Bùi Thị V, sinh năm 1963; bà Hoàng Thị B1, sinh năm 1956; bà Phạm Thị B2, sinh năm 1951; bà Chu Thị C, sinh năm 1951, đều trú tại thôn H, xã T. Sau đó, N đã thông báo lại cho S biết 14 giờ ngày 08/4/2023 đến Nhà văn hóa thôn H4 để giới thiệu và bán sản phẩm, S đồng ý rồi thông báo lại cho N1 và anh N2 biết.

Khoảng 13 giờ ngày 08/4/2023, anh N2 điều khiển xe ô tô biển số 15A-925.09 của N2 đi đón S và N1 đến gặp chị H3 ở khu vực gần cầu Đ - thành phố Hà Nội. Chị H3 giao cho S một số sản phẩm là thực phẩm chức năng do Công ty V1 sản xuất, bao gồm: 35 hộp hoạt huyết dưỡng não (với giá 18.000 đồng/1 hộp), 35 hộp viêm vai gáy (giá 18.000 đồng/1 hộp), 20 hộp trà (giá 18.000 đồng/1 hộp), 14 hộp Omega 369 (giá 100.000 đồng/1 hộp), 20 hộp nấm đông trùng hạ thảo (giá 40.000 đồng/1 hộp); 20 hộp cao đông trùng (giá 150.000 đồng/1 hộp), 40 hộp Fucoidan (giá 250.000 đồng/1 hộp). S đã trả đủ số tiền của những sản phẩm trên cho chị H3 là 16.820.000 đồng. Sau đó, anh N2 tiếp tục chở S và N1 đến Nhà văn hóa thôn H4, xã T. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tại Nhà văn hóa của thôn H đã có đủ 20 các ông, bà nói trên, thì S và N1 chào hỏi mọi người, giới thiệu làm quen và tặng mỗi người 01 hoặc 02 hộp hoạt huyết dưỡng não, 01 hoặc 02 hộp viên vai gáy. Trong quá trình giới thiệu sản phẩm, S đã kiểm tra thì thấy các ông bà nói trên đều mang theo tiền nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách mời tham gia chương trình tặng sản phẩm, Sáu sẽ nhận tiền nhưng sau đó sẽ không trả lại. Để biết được số tiền mà mọi người mang theo, S lần lượt giới thiệu một số sản phẩm và giá tiền, bảo mọi người ai có số tiền tương ứng với giá của sản phẩm thì giơ tiền lên sẽ được tặng sản phẩm đó. S đã giới thiệu và tặng các sản phẩm gồm: Trà với giá 100.000 đồng thì có 15 người giơ 100.000 đồng lên và được nhận sản phẩm làm quà tặng; nấm đông trùng hạ thảo với giá 500.000 đồng thì có 12 người giơ 500.000 đồng lên và cũng được nhận sản phẩm làm quà tặng. Sau mỗi lần giới thiệu và tặng xong 01 sản phẩm thì S đều bảo N1 đi ra xe để lấy sản phẩm tiếp theo, để cho mọi người thấy việc S và N1 có đi ra xe cũng là chỉ để lấy sản phẩm, nhằm tạo ra niềm tin cho mọi người, rồi lần cuối cùng sẽ bỏ đi để chiếm đoạt tiền của những người cao tuổi nêu trên.

Lần cuối, S giới thiệu đến sản phẩm Cao đông trùng hạ thảo với giá 2.000.000 đồng/1 sản phẩm và bảo mọi người ai có số tiền tương ứng sẽ đưa cho S cầm, rồi mời các ông bà lên sân khấu nhận sản phẩm, chụp ảnh và tặng lại số tiền đã đưa cho các ông bà đã nhận sản phẩm. Tiếp đó, S đã bàn bạc với N1: phải làm như vậy để mọi người tin tưởng, để lần sau khi mang sản phẩm Fucodan giới thiệu (Sáu sẽ nói giá là 2.000.000đ) rồi S và N1 sẽ tặng sản phẩm có giá của Công ty V1 là 250.000đ để chiếm đoạt số tiền là 2.000.000₫ của những người lên nhận sản phẩm Fucodan. N1 đồng ý và đã cùng S thực hiện hành vi như nêu ở trên. Cụ thể là: đã có tất cả 20 người cao tuổi được mời đều tham gia, mỗi người đưa cho S số tiền là 2.000.000đ, rồi lên sân khấu để nhận quà là 01 sản phẩm Fucoidan. 20 người cao tuổi nói trên đều nghĩ là sẽ được nhận lại tiền đã đưa cho S, nên đã đi lên theo lời mời của S như những lần trước. Ngát biết rõ lần tham gia chương trình này, S sẽ thu tiền và không trả lại cho mọi người rồi bỏ đi để chiếm đoạt, nhưng N1 vẫn đồng ý giúp sức cho S thực hiện. Sáu trao cho các ông bà cao tuổi mỗi người 01 sản phẩm Fucoidan và mời họ xếp hàng chụp ảnh rồi lại tặng tiếp cho mỗi người 01 sản phẩm Fucoidan nữa. Sáu đưa 40.000.000đ đã nhận của 20 người nói trên cho N1 cầm và bảo N1 đi ra xe trước, chờ S. Ngát làm theo yêu cầu của S, còn S ở lại tiếp tục nói với các ông bà “Cháu sẽ tặng thêm cho mỗi người 01 hộp hoạt huyết dưỡng não và 01 hộp viên vai gáy nữa, đợi cháu đi ra xe để lấy”. Nhưng khi S đi ra xe, thì S bảo anh N2 lái xe chở S và N1 đi về. Khoảng 30 phút sau, mọi người không thấy S và N1 mang sản phẩm vào tặng nên đi ra ngoài tìm thì mới phát hiện không còn S và N1 ở đó.

Số tiền chiếm đoạt 40.000.000 đồng, S đã chi trả cho N1 số tiền công là 300.000 đồng, trả cho anh N2 500.000 đồng, trả N tiền thuê hội trường Nhà văn hóa 1.500.000 đồng và chia cho N 8.752.0000 đồng. Còn lại 28.948.000 đồng, S đã tiêu sài cá nhân hết.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 điều 174 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Doãn Văn S 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành bản án.

Ngoài ra bản án còn tuyên hình phạt đối với bị cáo đồng phạm, về trách nhiệm dân sự, quyền kháng cáo.

Ngày 15/12/2023, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm

- Bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm 03 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm xong, bị cáo đã có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 03 tháng tù.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Doãn Văn S trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Doãn Văn S khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

    Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, vì mục đích tư lợi cá nhân nên Doãn Văn S đã đưa ra thông tin gian dối mời 20 người là các ông bà cao tuổi ở thôn H, xã T, gồm các ông, bà Nguyễn Thị N3, Trương Thị P, Đào Thị N4, Đào Thị R, Hoàng Thị M1, Đàm Thị A, Phạm Thị T1, Ngô Thị B, Trần Thị L1, Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị Đ, Lê Văn Q, Nguyễn Thị H1, Đỗ Thị H2, Nguyễn Thị H3, Phạm Thị T2, Bùi Thị V, Hoàng Thị B1, Phạm Thị B2 và Chu Thị C, tham gia chương trình tặng sản phẩm dinh dưỡng. Sau đó, S và N1 đã chiếm đoạt của 20 người nói trên số tiền 40.000.000 đồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Xét kháng cáo của bị cáo Doãn Văn S.

    Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị cáo đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt 02 năm 03 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

    Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại; UBND xã G, huyện G, tỉnh Nam Định xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính đang nuôi mẹ già sinh năm 1946 và 03 con chưa thành niên; bị cáo có chú ruột là liệt sỹ; bị cáo đã nộp toàn bộ các khoản án phí. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Doãn Văn S, giảm một phần hình phạt đối với bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

    Sau khi Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xét xử sơ thẩm, ng ày 19/12/2023, bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử và tuyên phạt 40 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, đến nay bản án đã có hiệu lực pháp luật, vì vậy cần phải tổng hợp bản án để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

    Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, vì vậy cần chấp nhận.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
  5. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Doãn Văn S, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2023/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên về phần hình phạt đối với bị cáo Doãn Văn S.

    Áp dụng: Khoản 1 điều 174; Điều 17, Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Doãn Văn S 02 (hai) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt 40 tháng tù tại Bản án số 339/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Doãn Văn S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2023 (theo Quyết định Thi hành án phạt tù số 28/2024/QĐ-CA ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Giang;
  • - TAND huyện Văn Giang;
  • - VKSND huyện Văn Giang;
  • - CA huyện Văn Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 29/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì mục đích tư lợi cá nhân nên Doãn Văn S đã đưa ra thông tin gian dối mời 20 người là các ông bà cao tuổi ở thôn Hòa Bình Thượng, xã Tân Tiến mua thực phẩm chức năng rồi lừa đảo chiếm đoạt 40 triệu đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger