|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HSST Ngày: 18 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Anh Trình và ông Đỗ Cao Thế.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Mậu T, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1989 tại L, Quảng Ninh, Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Mậu V và bà Lê Thị T1; có vợ Nguyễn Thị B (đã ly hôn), có 02 con; lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Lê Ngọc H, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1983 tại L, Quảng Ninh, Quảng Bình; nghề nghiệp: Buôn bán; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc H1 và bà Trần Thị L; có vợ Bùi Thị Quỳnh H2, có 02 con; lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Trần Hữu K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1980 tại L, Quảng Ninh, Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ xây; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Hữu C và bà Trần Thị N; có vợ Lại Thị T2, có 02 con, lớn sinh 2008, nhỏ sinh 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
Về nhân thân: Ngày 17/7/2001, UBND tỉnh Q ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục.
- Họ và tên: Trương Văn T3, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1983 tại V, Quảng Ninh, Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông
Trương Văn D và bà Hoàng Thị C1; có vợ Lưu Thị H3, có 02 con, lớn sinh 2016, nhỏ sinh 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Mậu T4, sinh năm 1989; nghề nghiệp: Buôn bán; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Trương Văn T5, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
- + Anh Lê Ngọc N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 22/02/2024, qua việc xác minh tin báo của quần chúng nhân dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện Q phối hợp với Công an xã L, huyện Q đã phát hiện và bắt quả tang tại quán ăn T6 ở thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K, cùng trú tại: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và Trương Văn T3, trú tại: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức mậu binh thắng thua bằng tiền. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 và 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân bài.
Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận như sau:
Vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 22/02/2024, tại quán ăn T6 ở thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K và Trương Văn T3 cùng rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức mậu binh, cách thức đánh như sau:
Trước khi đánh, T, H, K và T3 quy ước: Người thắng chi đầu (chi 1) sẽ ăn được số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng), người thắng chi giữa (chi 2) sẽ ăn được số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) và người thắng chi cuối (chi 3) sẽ ăn được số tiền 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Sau đó, từ bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài (một quân bài gồm có hai phần: số hoặc chữ (2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J (bồi), Q (đầm), K (già), A (át) và chất (cơ, rô, tép, bích), giá trị quân bài độ mạnh tăng dần từ 2 đến A (át) mỗi người chơi sẽ được chia 13 quân bài, rồi xếp 13 quân bài đã được chia thành 3 chi, chỉ 1 và chi 2 gồm 5 quân bài, còn chi 3 gồm 3 quân bài, các chi được liên kết theo quy định như sau:
- - Mậu thầu: Các quân bài có giá trị khác nhau, không có liên kết các quân bài với nhau;
- - Đôi: trong các chi có 2 quân bài cùng giá trị, còn các quân bài còn lại có giá trị khác nhau;
- - Thú: trong các chi có 5 quân bài có 2 đôi, quân bài còn lại có giá trị khác với 2 đôi kia (chi cuối không có);
- - Xám: các chỉ có 3 quân bài cùng giá trị. Xám xuất hiện ở chi có 5 quân bài thì 2 quân bài còn lại phải có giá trị khác nhau, giống nhau là trường hợp cù lũ;
- - Sảnh: các chỉ có 5 quân bài liên tiếp nhau (chi cuối không có), 5 quân bài liên tiếp nhau gồm A,2,3,4,5 được gọi là sảnh nhị, chỉ đứng sau sảnh đại gồm A, K, Q, J, 10;
- - Thùng: các chỉ có 5 quân bài cùng chất (chi cuối không có);
- - Cù lũ: Các chỉ có 5 quân bài có 1 Xám và 1 đôi (chi cuối không có);
- - Tứ quý: Các chỉ có 5 quân bài có 4 quân bài có cùng giá trị (chi cuối không có);
- - Thùng phá sảnh: Các chi có 5 quân bài liên tiếp nhau và đồng chất (chi cuối không có);
- - Thùng phá sảnh lớn: Các chi có 5 quân bài liên tiếp nhau, đồng chất và có quân bài A (át) (chi cuối không có);
- - Binh lủng: Không sắp xếp các chi theo thứ tự từ chi 1 phải mạnh hơn chỉ 2, chi 2 phải mạnh hơn chi 3. Nếu không sắp xếp đúng theo thứ tự như vậy gọi là binh lủng;
- - Sảnh rồng: 13 quân bài có giá trị liên tiếp nhau từ quân bài 2 đến quân bài A (át);
Người chơi phải sắp xếp sao cho chi 1 mạnh hơn chi 2, chi 2 mạnh hơn chi 3. Sau khi sắp xếp hoàn thành, bốn người chơi sẽ đưa bài ra để so sánh theo từng chi, bắt đầu từ chi đầu tiên (chi 1), đến chi giữa (chi 2) và cuối cùng là chi cuối (chi 3). Khi so sánh chi giữa bốn người chơi với nhau, độ mạnh tăng dần như sau: Binh lủng đến mậu thầu, đến đôi, đến thú, đến xám, đến sảnh, đến thùng, đến cù lũ, đến tứ quý, đến thùng phá sảnh.
Khi người chơi có bài mậu binh thường thì sẽ thắng được tiền trong các trường hợp sau:
- - Tứ quý chi đầu (chi 1) và chi giữa (chi 2): Nếu người chơi có bộ tứ quý trong chi đầu hoặc chi giữa, thì sẽ thắng được tổng số tiền 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng) từ ba người chơi còn lại;
- - Thùng phá sảnh chi đầu (chi 1) và chi giữa (chi 2): Nếu người chơi có bộ tứ quý trong chi đầu hoặc chi giữa, thì sẽ thắng được tổng số tiền 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng) từ ba người chơi còn lại;
Nếu hai người chơi có chi độ mạnh bằng nhau thì người chia bài sẽ thắng được tiền, còn khi hai người đó không chia bài thì chia đôi tiền thắng cược với nhau.
Người thắng một chi sẽ nhận được tiền cược từ người thua, người thua sẽ trả tiền cược số chi đã bị thua cho người thắng và khi có người bị thua cả ba chi (gọi là sập ba chi) thì sẽ bị thua số tiền 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
Ngày 22/02/2024, Cơ quan Công an huyện Q bắt quả tang và thu giữ tài liệu, đồ vật gồm: 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ, đã qua sử dụng; số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2, gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an huyện Q.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
4
Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS, ngày 13-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố luận tội và đề nghị: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt Lê Mậu T mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng;
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, các Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 xin được phạt tiền, bị cáo Lê Mậu T xin HĐXX cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định.
[3] Về tội danh:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 thống nhất khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
5
như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các Bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 22/02/2024, tại quán ăn T6 ở thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K và Trương Văn T3 đã có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức mậu binh với số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý; đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Về tính chất vụ án: Vụ án có 4 bị cáo cùng đánh bạc bằng hình thức mậu binh, không bàn bạc với nhau từ trước nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm quy định pháp luật về trật tự an toàn công cộng, sát phạt nhau, tư lợi và mục đích là nhằm tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau. Các Bị cáo biết và nhận thức được việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, biết tác hại và hậu quả của tệ nạn đánh bạc kéo theo nhiều hệ lụy cho xã hội và gia đình nhưng các bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính chất vụ án mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết khác đối với các bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.
[4.2] Về trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Ngọc H, Trương Văn T3, Trần Hữu K có công cứu giúp người trong trận lũ lịch sử 2020 được chính quyền địa phương xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Hữu K đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục vào năm 2001, tuy nhiên có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ mất sớm, đang nuôi con nhỏ. Xét thấy, chưa cần thiết cách ly các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K, Trương Văn T3 ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 35 (đối với các bị cáo K, H, T3), Điều 65 (đối với bị cáo T) của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật. HĐXX chấp nhận mức đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về các hành vi vi phạm pháp luật khác trong vụ án:
6
Trong vụ án này, Lê Mậu T4 là chủ quán Tuấn M, thời điểm các bị cáo đánh bạc Lê Mậu T4 không có mặt và không biết, không thu tiền xâu, không nhận bất kỳ lợi ích gì nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Trương Văn T5 và Lê Ngọc N1 biết các bị cáo đánh bạc nhưng không tham gia, không nhận lợi ích gì, không giúp sức hoặc che dấu hành vi phạm tội, việc không tố giác hành vi phạm tội của các bị cáo trên không phạm vào tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
[6] Về vật chứng vụ án:
Số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ, đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là đúng với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K và Trương Văn T3 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 298, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, Điều 333, Điều 414, Điều 423 của Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K và Trương Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Mậu T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/6/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H phạt tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
7
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu K phạt tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn T3 phạt tiền 20.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tiền tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 14.370.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 theo Biên lai thu tiền số 0003957 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh và Công an huyện Q ngày 29/5/2024.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ loại 52 (năm mươi hai) quân, một bộ màu xanh, một bộ màu đỏ, đã qua sử dụng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án huyện Quảng Ninh ngày 21 tháng 5 năm 2024.
3. Án phí hình sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Mậu T, Lê Ngọc H, Trần Hữu K và Trương Văn T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 29/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 29/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử bị cáo Lê Mậu T cùng đồng phạm
