TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 29/2024/HSST
Ngày 17 - 4 - 2024
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Danh Phú
Bà Phan Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại điểm trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và tại điểm thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Hồng S (Giới tính: Nam), sinh ngày 15/7/1988 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đặng Trọng L (đã chết) và bà: Thái Thị T; có vợ là: Nguyễn Thị H; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Họ và tên: Đặng Trọng T1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 03/3/1999 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm Q, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Trọng T2 và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
Ngoài ra còn có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt không có lý do).
- Nhân chứng: Ông Hoàng Ngọc H1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt không có lý do).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, Đặng Hồng S sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo “Hai hòn” của mình, gọi điện đến tài khoản Zalo “đê a” của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974, trú tại xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhờ Đ mua giúp cho S 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) tiền ma túy Hồng phiến, thì Đ đồng ý và nói S mang tiền xuống nhà mình, S đồng ý rồi đưa tiền xuống nhà cho Nguyễn Đình Đ nhờ mua hộ ma túy. Đến khoảng 18 giờ 20 phút ngày 20/12/2023, khi S đang ở nhà thì thấy Nguyễn Đình Đ điều khiển xe mô tô đến nhà và đưa cho Đặng Hồng S 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa một bao ni lông màu xanh. Đặng Hồng S mở gói ma túy vừa mua được kiểm tra thấy bên trong gói ni lông màu xanh chứa 203 (Hai trăm linh ba) viên nén hình tròn màu hồng và 02 (Hai) viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy. Nhận được ma túy, Đặng Hồng S xóa toàn bộ nội dung lịch sử cuộc gọi giữa Đặng Hồng S với Nguyễn Đình Đ và cất giấu toàn bộ số ma túy nói trên vào vị trí trên tấm đệm trong phòng ngủ nhà ở với mục đích bán lại kiếm lời. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Đặng Hồng S lấy từ trong gói ma túy hồng phiến cất giấu bên trên tấm đệm trong phòng ngủ nhà ở 11 viên ma túy H2 phiến và gói thành 02 (Hai) gói ma túy gồm: Gói nhứ nhất có 02 (Hai) viên ma túy bỏ vào bên trong gói ni lông màu vàng, bên ngoài bọc bằng giấy kim tuyến màu vàng; gói ma túy thứ hai gói bằng ni lông màu xanh bên trong chứa 09 (Chín) viên ma túy hồng phiến. Sau khi chia ma túy, Đặng Hồng S cất giấu hai gói ma túy này vào trong túi quần bên trái phía trước chiếc quần Đặng Hồng S đang mặc, số ma túy còn lại Đặng Hồng S cất giấu bên trên tấm đệm trong phòng ngủ nhà ở. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/12/2023, khi S đang ở nhà của mình thì có Đặng Trọng T1 đến hỏi mua ma túy. Tại đây, Đặng Trọng T1 nói với Đặng Hồng S “Còn không để cho em nợ hai trăm”, có nghĩa Đặng Trọng T1 hỏi mua nợ của Đặng Hồng S 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền ma túy. Đặng Hồng S lấy từ túi quần bên trái phía trước chiếc quần Đặng Hồng S đang mặc đưa cho T1 01 (Một) gói giấy kim tuyến màu vàng, bên trong có một gói ni lông màu vàng, bên trong chứa 02 (hai) viên ma túy. Đặng Trọng T1 cầm gói ma túy nói trên tay rồi đi tìm khu vực để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 50 phút ngày 20/12/2023, khi Đặng Trọng T1 đi đến khu vực Nhà văn hóa xóm Q, xã Q, huyện Y chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng, thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay của Đặng Trọng T1 01 (Một) gói giấy kim tuyến màu vàng, bên trong chứa 02 (Hai) viên nén hình tròn màu hồng, T1 khai là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành niêm phong vật chứng theo đúng quy định pháp luật.
Từ lời khai của Đặng Trọng T1, ngày 21/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Hồng S. Quá trình bắt giữ và khám xét thu giữ như sau: Thu giữ tại vị trí bên trong túi quần bên trái phía trước chiếc quần Đặng Hồng S mặc 01 (một) gói nilông màu xanh bên trong chứa 09 (Chín) viên nén hình tròn màu ma túy. Thu giữ tại vị trí bên trên tấm đệm trong phòng ngủ nhà ở 01 (Một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa một bao ni lông màu xanh, bên trong chứa 192 (Một trăm chín mươi hai) viên nén hình tròn màu hồng và 02 (Hai) viên nén hình tròn màu xanh đều là ma túy (Số ma túy bị thu giữ Đặng Hồng S khai nhận là để bán kiếm lời). Thu giữ của Đặng Hồng S 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, bên trong gắn sim số 0338630692, máy đã qua sử dụng và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, bên trong gắn sim số 0969948378, máy đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã triệu tập lấy lời khai của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974, trú tại xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An và tiến hành đối chất giữa Đặng Hồng S và Nguyễn Đình Đ. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đình Đ không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Đặng Hồng S, cũng như khẳng định chưa từng bán ma túy cho bất kỳ ai.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đối với vật chứng thu giữ của Đặng Trọng T1.
Ngày 21/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đối với vật chứng thu giữ của Đặng Hồng S (các mẫu vật chứng được ký hiệu M1, M2 và M3).
Tại Kết luận giám định số 51/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 25/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Đặng Trọng T1 gửi đến giám định là ma túy loại “Methamphetamine”.
- Số viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Đặng Trọng T1 có tổng khối lượng là 0,2g (không phẩy hai gam)
Tại Kết luận giám định số: 52/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 25/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
- Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Đặng Hồng S gửi đến giám định là ma túy loại “Methamphetamine”.
- Số viên nén hình tròn màu hồng và số viên nén hình tròn màu xanh thu giữ của Đặng Hồng S có tổng khối lượng là 20,555g (Hai mươi phẩy năm trăm năm mươi lăm gam)".
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Đặng Hồng S, Đặng Trọng T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
Ngày 20/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thu giữ của Đặng Hồng T3:
- 01 (một) gói giấy kim tuyến màu vàng, bên trong có một gói ni lông màu vàng, bên trong gói ni lông màu vàng có 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,2g (không phẩy hai gam) đã lấy 01 (một) viên có khối lượng 0,1g (không phẩy một gam) gửi giám định (không hoàn lại), còn lại 0,1g (không phẩy một gam) cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, bên trong gắn sim số 0349437102, đã qua sử dụng.
Ngày 21/12/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ của Đặng Hồng S:
- 01 (một) gói nilông màu xanh bên trong chứa 09 (chín) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,88g (không phẩy tám mươi tám gam) lấy 02 (hai) viên có khối lượng 0,2g (không phẩy hai gam) gửi giám định không hoàn lại, hiện còn 07 viên có khối lượng 0,68g (không phẩy sáu mươi tám gam cùng phong bì niêm phong).
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa một bao ni lông màu xanh, bên trong chứa 192 (một trăm chín mươi hai) viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 19,48 g (mười chín phẩy bốn mươi tám gam) đã lấy 02 (hai) viên có khối lượng 0,2g (không phẩy hai gam) gửi giám định không hoàn lại, hiện còn 190 (một trăm chín mươi viên) có khối lượng 19,28g (mười chín phẩy hai mươi tám gam) và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng khối lượng 0,195g (không phẩy một trăm chín mươi lăm gam), lấy gửi giám định không hoàn lại 01 (một) viên có khối lượng 0,1g (không phẩy một gam), hiện còn 01 (một) viên có khối lượng 0,95g (không phẩy chín lăm gam), cùng vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, bên trong gắn sim số 0338630692, máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, bên trong gắn sim số 0969948378, máy đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Đặng Hồng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Đặng Trọng T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đặng Trọng T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Hồng S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù 06 tháng tù.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Trọng T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu trưng cầu giám định, thu của bị cáo Đặng Hồng S và Đặng Trọng T1:
- Tịch thu, hóa giá sung quỹ ngân sách Nhà Nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, số IMEI 1: 357361093843014, số IMEI 2: 357361093932213, bên trong gắn sim số 0338630692, máy đã qua sử dụng.
- Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Đặng Trọng T1 01 (Một) chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 1: 353096103721065, số IMEI 2: 35309610372106, bên trong gắn sim số 0349437102 đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Đặng Hồng S 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, số IMEI 1: 860955054605856, số IMEI 2: 860955054605864, bên trong gắn sim số 0969948378 đã qua sử dụng vì đây là tài sản hợp pháp của bị cáo T1, bị cáo S vì hai chiếc điện thoại nêu trên các bị cáo không sử dụng để liên lạc trong quá trình mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt bổ sung: Do điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo T1, bị cáo S khó khăn, thu nhập thấp, đề nghị không xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về án phí: Buộc bị cáo S, bị cáo T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 135 và điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14
Bị cáo Đặng Hồng S và bị cáo Đặng Trọng T1 không tranh luận, đối đáp gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình Đ và người làm chứng là ông Hoàng Ngọc H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trên.
[II] Về nội dung:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Đặng Hồng S, Đặng Trọng T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét chổ ở đối với bị cáo Đặng Hồng S, biên bản thu giữ vật chứng, khối lượng ma túy được thu giữ của các bị cáo, kết luận giám định, cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 20/12/2023, tại xóm Q, xã Q, huyện Y, Công an huyện Y bắt quả tang Đặng Trọng T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2g (Không phẩy hai gam) ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra chứng minh số ma túy của Đặng Trọng T1 bị thu giữ là do bị cáo T1 mua của Đặng Hồng S. Khi cơ quan điều tra tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét nơi ở của S tại xóm Q, xã Q, huyện Y đã thu giữ của Đặng Hồng S 20,555g ma túy loại Methamphetamine, số ma túy này Đặng Hồng S khai mua của của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974, trú tại xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An với mục đích để bán lại cho người có nhu cầu để hưởng tiền chênh lệch. Như vậy, tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà Đặng Hồng S mua bán trái phép là 20,755 gam; khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà Đặng Trọng T1 tàng trữ trái phép là 0,2 gam. Ngoài ra Cơ quan điều tra đã thu của Đặng Hồng S 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, số IMEI 1: 357361093843014, số IMEI 2: 357361093932213, bên trong gắn sim số 0338630692, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, số IMEI 1: 860955054605856, số IMEI 2: 860955054605864, bên trong gắn sim số 0969948378 đã qua sử dụng; Thu giữ của Đặng Trọng T1 01 (Một) chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 1: 353096103721065, số IMEI 2: 35309610372106, đã qua sử dụng bên trong gắn sim số 0349437102.
Hành vi của bị cáo Đặng Hồng S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Đặng Trọng T1 đã yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Yên Thành truy tố bị cáo Đặng Hồng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;Truy tố bị cáo Đặng Trọng T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Đây là một vụ án rất nghiêm trọng, các bị cáo đều phạm tội độc lập Đặng Trọng T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Đặng Hồng S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tại thời điểm phạm tội các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Bị cáo T1, bị cáo S biết rõ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm. Nhưng vì để thỏa mãn về việc sử dụng ma túy của Đặng Trọng T4 và để kiếm tiền tiêu xài cá nhân một cách bất chính nên bị cáo Đặng Trọng T1 và bị cáo Đặng Hồng S vẫn liều lĩnh xem thường pháp luật cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội;gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người; tiếp tay cho tệ nạn ma túy và các loại tội phạm khác mà cả xã hội đang chung sức đẩy lùi. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3]Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Hồng S và bị cáo Đặng Trọng T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo,tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân các bị cáo cho đến ngày phạm tội tốt chưa có tiền án, tiền sự. Gia đình bị cáo S, bị cáo T1 có công với cách mạng có ông bà nội là ông Đặng Trọng L và bà Trần Thị T5 đã có thành tích trong phòng trào chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì. Ông ngoại của bị cáo T1 là ông Nguyễn Quốc H3 đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì và Huân chương chiến sỹ vẽ vang hạng ba. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo S và bị cáo T1 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào tính chất vụ án và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo đã thựa hiện, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Hồng S và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Trọng T1.
[4] Đối với Nguyễn Đình Đ: Là người được bị cáo Đặng Hồng S khai bán ma túy cho bị cáo S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của Nguyễn Đình Đ và tiến hành đối chất giữa Đặng Hồng S và Nguyễn Đình Đ. Nhưng Nguyễn Đình Đ không thừa nhận hành vi bán ma túy cho bị cáo S, ngoài lời khai của bị cáo S thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác, để chứng minh Nguyễn Đình đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, nên cơ quan điều tra không khởi tố đối với Nguyễn Đình Đ trong vụ án này là đúng.
[5] Về xử lý vật chứng: Khối lượng ma túy Methamphetamine thu của Đặng Trọng T1 và Đặng Hồng S sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định còn lại là chất cấm, chất gây nghiện, nhà nước cấm lưu hành không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo qui định của pháp luật.
Đối với 02 (Hai) điện thoại di động đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo S. Trong đó chiếc điện thoại nhãn hiệu 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, số IMEI 1: 357361093843014, số IMEI 2: 357361093932213, bên trong gắn sim số 0338630692, đã qua sử dụng là phương tiện để bị cáo S liên lạc để mua ma túy cần tịch thu hóa giá vào Ngân sách Nhà Nước. Chiếc điện di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, số IMEI 1: 860955054605856, số IMEI 2: 860955054605864, bên trong gắn sim số 0969948378 đã qua sử dụng thoại còn lại thu của bị cáo S, không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo S.
Chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 1: 353096103721065, số IMEI 2: 35309610372106, bên trong gắn sim số 0349437102 thu giữ của bị cáo Đặng Trọng T1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rỏ bị cáo T1 không dùng để làm phương tiện để liên lạc mua ma túy của bị cáo S. Xét đây là tài sản hợp pháp của bị cáo T1, không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T1.
[6] Hình phạt bổ sụng: Do điều kiện hoàn cảnh của bị cáo T1, bị cáo S khó khăn, nghề nghiệp của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, nên không thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Hồng S, Đặng Trọng T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tạ điều 135, điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Hồng S 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 21/12/2023).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Trọng T1 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ngày bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo (Ngày 20/12/2023).
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy giám định gồm:
- +/ 01 (Một) viên nén hình tròn màu hồng (Là ma túy Methamphetamine) có khối lượng là 0,1g (Không phẩy một gam) thu giữ của Đặng Trọng T1.
- +/ 197 (Một trăm chín mươi bảy) viên nén hình tròn màu hồng (Là ma túy Methamphetamine) và 01 (Một) viên nén hình tròn màu xanh (Là ma túy Methamphetamine) có tổng khối lượng là 20,055g (Hai mươi phẩy không trăm năm mươi lăm gam) thu giữ của Đặng Hồng S.
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XR màu đỏ, số IMEI 1: 357361093843014, số IMEI 2: 357361093932213, bên trong gắn sim số 0338630692, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Hồng S.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, số IMEI 1: 860955054605856, số IMEI 2: 860955054605864, bên trong gắn sim số 0969948378, máy đã qua sử dụng, thu giữ của Đặng Hồng S.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Trọng T1 01 (Một) chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu Iphone XS max màu vàng, số IMEI 1: 353096103721065, số IMEI 2: 35309610372106, bên trong gắn sim số 0349437102 và Đặng Hồng S 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10Pro màu xanh, số IMEI 1: 860955054605856, số IMEI 2: 860955054605864, bên trong gắn sim số 0969948378 đã qua sử dụng.
Những vật chứng nêu trên đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo Biên bản về việc giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/3/2024.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ khối lượng ma túy còn lại sau khi lấy giám định gồm:
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đặng Hồng S, Đặng Trọng T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do tòa án tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Anh Ngọc |
9
Bản án số 29/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 29/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Hồng S mua bán trái phép chất ma túy, Đặng Trọng T tàng trữ trái phép chất ma túy
