|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HSPT |
Ngày: 20/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Văn Bình – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/TLPT-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 27 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn S, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962, con bà Trương Thị N, sinh năm 1968; gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ 2, có vợ là Dương Thị C, sinh năm 1996 và có 01 con, sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2023 đến ngày 16/01/2024, hiện tại ngoại. Có mặt.
* Người bị hại: Anh Đặng Văn D, sinh năm 1998. Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
1
Trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị N nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/7/2023, Nguyễn Văn S rủ anh Nguyễn Khắc H ở thôn Đ, xã Y, huyện Y đến quán bia “Việt N1” của chị Đào Thị L1 ở thôn A, xã Y, huyện Y để uống bia. Đến nơi, S và anh H đi vào bên trong quán bia thấy anh Trần Văn H1, anh Trần Văn N2 ở cùng thôn với anh H, anh Đặng Văn D, anh Nguyễn Văn H2, anh Nguyễn Văn C1 đều ở cùng thôn với S đang ngồi uống bia cùng nhau. Do quen biết nhau từ trước, nên anh H và S ngồi vào bàn uống bia cùng những người này. Sau đó chị Nguyễn Thị L2 là vợ anh H2, chị Trần Thị Thu H3 là vợ của anh N2 và chị Nguyễn Thị M là vợ của anh C1 và anh Vũ Văn Đ ở thôn A, xã Y đến quán bia “Việt N”. Chị M, chị H3, anh Đ, anh C1 và anh N2 không ngồi cùng nhóm S mà đi uống nước, còn chị L2 ngồi cùng nhóm của S. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày do anh H1 có biểu hiện say, nên anh H1 đi ra ngoài hút thuốc còn mọi người vẫn tiếp tục ngồi uống với nhau. Biết giữa anh H2 và chị L2 có mâu thuẫn chuyện gia đình nên S nói chuyện động viên anh H2 và chị L2. Khoảng 05 phút sau, anh H1 quay lại tiếp tục uống bia, thấy S đang nói chuyện với anh H2 và chị L2 nên nói: “Tin bố mẹ thôi chứ tin đéo gì bạn bè”. S liền nói: “Chuyện của tôi thì liên quan đéo gì đến nhà ông”. Sau đó, S và anh H1 cãi chửi nhau. S và anh D cùng đứng dậy đi về. Khi S đi đến gần vị trí đối diện anh H1 thì anh H1 đứng dậy cầm 01 chiếc bát con bằng sứ, màu trắng để ở trên bàn ném về phía S nhưng S tránh được. Bị anh H1 ném bát, S dùng tay phải cầm 01 chiếc bát bằng sứ màu trắng ở trên bàn ném về phía anh H1 nhưng không trúng anh H1 mà trúng vào vùng mặt của anh D làm chiếc bát bị vỡ. Anh D1 bị thương ngã xuống nền bê tông của quán. S tiếp tục lao vào anh H1 để đánh nhưng được mọi người can ngăn nên hai bên không đánh nhau nữa. Anh Dũng
2
nằm dưới nền sân bê tông, chảy máu nhiều ở miệng, được S và mọi người đưa đi cấp cứu.
Thương tích ban đầu của anh D1 khi được khám tại Trạm y tế xã Y, huyện Y gồm: viền môi dưới bên trái chảy máu, có vết rách da dài khoảng 03cm, sâu 0,5cm. Gãy răng số 03 hàm dưới bên phải, răng số 02 hàm trên bên trái bị mẻ. Bị đau ở mắt nhưng không mở mắt ra được.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số: 28/2023/CNTT-KHTH ngày 25/8/2023 của Bệnh viện M2 xác định thương tích mắt phải của anh Đặng Văn D khi vào viện:
Mắt phải: Mi mắt nề nhẹ, kết mạc cương tụ, rách giác mạc kéo dài từ 7h đến rìa 11h kích thước ~5mm, bờ phù, kẹt mống mắt tại vị trí mép rách, củng mạc chưa thấy tổn thương, tiền phòng rất nông, rách mống mắt tại vị trí 9h theo chiều dài vết thương giác mạc, đồng tử méo phản xạ (-), thể thủy tinh đục vỡ, thủy tinh dịch không soi được, soi ánh đồng tử trắng, vận nhãn bình thường, hốc mắt bình thường, đáy mắt không soi được.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số: 324/2023/CN ngày 11/9/2023 của Bệnh viện R xác định thương tích khi vào viện của anh Đặng Văn D: “Vết thương môi dưới trái 3cm đã khâu, há miệng 4cm, khớp cắn đúng. Gãy răng 73, còn chân răng hở tủy, không chảy máu. Vỡ thân răng 22 không hở tủy. Lắc xương hàm trên, xương hàm dưới không di động. Hình ảnh chân răng 73, không có hình ảnh gián đoạn xương”.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số: 116/KLTTCT-TTPY ngày 02/10/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh B kết luận về thương tích của anh Đặng Văn D:
- Thương tích môi dưới bên trái (phần da môi), cách mép môi bên trái 1cm, kích thước 0,3cm x 1,3cm, bờ không đều, màu hồng nhạt, liền sẹo tốt. Môi không khuyết hồng. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.1. Sẹo nhỏ: 1. = 1%. Vùng mặt x 3 = 3%.
3
- Vết thương xuyên thấu nhãn cầu, đục vỡ thể thủy tinh. Tại thời điểm giám định: Dịch kính vẩn đục, giác mạc vết khâu dài tại vị trí vùng rìa 7 giờ thẳng đến vị trí 11 giờ còn chỉ khâu; thị lực mắt phải ĐNT 2m (dưới 1/20); Hình ảnh thủy tinh thể mắt phải nhân tạo. Căn cứ khoản 2 Điều 3 Thông tư số: 22/2019/TT-BYT. Áp dụng chương 10 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương cơ quan thị giác. Mục II.2. và M1 XV = 38%.
- Tại thời điểm khám: Mẻ răng 22 (vỡ thân răng). Áp dụng chương 11 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương Răng - Hàm - Mặt. Mục II.1.1. = 1%.
- Gãy mất thân răng số 2 hàm dưới bên trái, còn chân răng. Áp dụng chương 11 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương Răng - Hàm - Mặt. Mục II.1.2. = 2%.
- Răng 23 mẻ rìa cắn. Không thể hiện trong giấy chứng nhận thương tích. Không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y.
- Hình ảnh: Vách mũi vẹo về bên trái 6mm; Xoang hơi cuốn mũi giữa phải. Không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y.
- Thị lực mắt trái 5/10 (cận thị). Là bệnh lý có trước. Không có căn cứ xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y.
- Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Văn D tại thời điểm giám định là: 42% (Bốn mươi hai phần trăm).
- Cơ chế tác động ngoại lực bởi vật tày sinh cạnh sắc.
- Chiếc bát bằng sứ có đường kính khoảng 15cm, cao 5,5cm do Nguyễn Văn S ném anh Đặng Văn D có thể gây ra thương tích cho anh D.
4
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 14/2024/HS-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bắt tạm giam từ ngày 16/10/2023 đến ngày 16/01/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11/3/2024, Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận khoảng 22 giờ ngày 28/7/2023, tại quán B của chị Đào Thị L1 ở thôn A, xã Y, huyện Y, do bị cáo và anh Nguyễn Văn H4 xảy ra mâu thuẫn nên khi anh H4 cầm 01 chiếc bát sứ ném nhưng không trúng bị cáo thì S đã lấy bát sứ ném về phía anh H4 nhưng lại trúng vào vùng mắt bên phải và môi dưới bên trái của anh Đặng Văn D, làm anh D bị tổn thương cơ thể là 42%. Bị cáo đã tác động mẹ đẻ để bồi thường 340.000.000 đồng cho anh D, hiện là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Người bị hại là anh Đặng Văn D tại phiên tòa phúc thẩm xác nhận anh đã nhận được bồi thường 340.000.000 đồng từ phía gia đình S, anh không đề nghị bồi thường thêm, hiện tại anh vẫn tiếp tục điều trị thương tích ở mắt phải. Anh Dũng đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện giúp đỡ gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tại phiên tòa kết luận vụ án đã cho rằng án sơ thẩm xét xử bị cáo S đúng người, đúng tội, tại phiên tòa, bị cáo có chứng cứ mới đủ điều kiện để được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt 3 năm tù đối với S nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
5
Bị cáo Nguyễn Văn S không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát chỉ tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Nguyễn Văn S có kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào 22 giờ ngày 28/7/2023, tại quán B của chị Đào Thị L1 ở thôn A, xã Y, huyện Y, chỉ vì lời qua tiếng lại trong khi uống bia nên khi bị anh Nguyễn Văn H4 ném 01 chiếc bát sứ nhưng không trúng người thì Nguyễn Văn S đã lấy bát sứ ném về phía anh H4 nhưng lại trúng vào vùng mắt bên phải và môi dưới bên trái của anh Đặng Văn D, làm anh D bị tổn thương cơ thể 42%. Do vậy, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo S phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền của công dân được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, trật tự trị an trên địa bàn. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo S, Hội đồng xét xử thấy: Tuy Sửu phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nhưng thương tích
6
thực tế của người bị hại chỉ ở khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vết thương hiện đang được chữa trị tích cực. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tác động và cùng gia đình bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 340.000.000 đồng; tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người bị hại tiếp tục xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo còn có bác ruột là liệt sỹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần chấp nhận kháng cáo của S cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng giúp trở thành công dân có ích.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn S; Sửa án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 03 (Ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
7
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn S không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Công Đồng |
8
Bản án số 29/2024/HSPT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 29/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S phạm tội Cố ý gây thương tích
