|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HSST.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Nguyễn Văn Chuyết.
- Ông Nguyễn Mạnh Trường.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 14/5/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh năm 1979
tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Hiện đang trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Nguyễn Tri P, sinh năm 1958; Con bà Phạm Thị T1, sinh năm 1960; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ nhất; Chồng Bùi Văn H, sinh năm 1974 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đồng Văn T2, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
- - Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; Trú tại: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2023, Nguyễn Thị T thuê nhà bà Nguyễn Thị H1 tại tổ dân phố M, thị trấn N mở cửa hàng “Spa”. Do thu nhập không ổn định, T nảy sinh ý định ngồi trực tiếp tại cửa hàng “Spa” bán số lô, số đề cho người khác để hưởng lợi bất chính. Hình thức chơi số lô đề là hành vi đánh bạc dựa vào kết quả xổ số miền B trong ngày. Các đối tượng quy định cách chơi như sau:
- - Về số đề: Người chơi chọn một số có hai chữ số bất kỳ (từ 00 đến 99) và bỏ ra một số tiền để đặt cược sau đó so sánh với hai số hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt ngày hôm đó. Nếu kết quả xổ số trong ngày có hai số hàng chục và hàng đơn vị trong giải đặc biệt trùng với số người chơi chọn thì được gọi là “trúng đề”, khi đó T sẽ phải trả cho người chơi số tiền gấp 70 lần số tiền người chơi đã bỏ ra, ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã đặt cược.
- - Về số lô điểm: Người chơi cũng chọn một số có hai chữ số bất kỳ (từ 00 đến 99) để đặt cược theo điểm, mỗi điểm lô Thơ thu 23.000 đồng. Sau đó so sánh với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu số mà người chơi chọn trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của bất kỳ giải nào trong kết quả xổ số trong ngày thì được gọi là “trúng lô", khi đó T phải trả cho người chơi số tiền tương ứng 1 điểm lô là 80.000 đồng, nếu trùng bao nhiêu giải thì nhân tiếp số tiền với bấy nhiêu lần, ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã bỏ ra để đặt cược.
Khoảng 17 giờ ngày 26/01/2024, Nguyễn Thị T chuẩn bị 02 chiếc bút bi; một tập giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước 6,5 x 8,5cm gọi là cáp ghi số lô, số đề; một tờ giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 18 x 29,5cm, ghi các số lô, số đề đã bán cho khách để làm căn cứ đối chiếu khi có kết quả sổ xố. Thơ ngồi tại bàn trong cửa hàng để bán số lô, số đề cho khách chơi. Một lúc sau có một số người lạ không quen biết đến mua, T đều ghi các số lô đề vào tờ cáp đề đưa cho người mua, đồng thời Thơ ghi lại các số lô đề vào tờ giấy để làm căn cứ đối chiếu khi có kết quả xổ số. Sau đó anh Phạm Văn H2, sinh năm 1994 (trú tại: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) là anh em họ với T đến hỏi vay tiền, T dùng số tiền 416.000 đồng mình vừa bán số lô đề cho khách ngày 26/01/2024 đưa cho H2 vay.
Khoảng 17 giờ 35 cùng ngày, Nguyễn Văn T3 đến hỏi mua của T các số lô 69; 96 mỗi số 50 điểm và các số đề 69; 96 mỗi số 100.000 đồng. T đồng ý rồi lấy một tờ cáp ghi các số lô đề T3 đã mua, rồi ghi ngày tháng, ký vào tờ cáp đồng thời ghi các số lô đề vừa bán cho T3 vào tờ thống kê. Thơ tính tổng tiền lô đề T3 đã mua là 2.500.000 đồng. T3 trả cho T 2.500.000 đồng, rồi cầm tờ cáp cất vào túi quần. Ngay sau đó, Đồng Văn T2 đến hỏi mua của T các số đề 05; 50 mỗi số 10.000 đồng và đầu 5 (gồm các số 50; 51; 52; 53; 54; 55; 56; 57; 58; 59) mỗi số 5.000 đồng. Thơ tiếp tục lấy một tờ cáp đề ghi các số đề Tập đã mua với hình thức tương tự rồi tính tổng số tiền đề Tập mua là 70.000 đồng. Tập trả cho T 70.000 đồng rồi cầm lấy tờ cáp. Tiếp đó Nguyễn Văn B cũng đến hỏi mua của T các số lô 86; 68; 82 mỗi số 50 điểm với tổng số tiền lô là 3.450.000 đồng. Ba trả cho T 3.450.000 đồng, rồi cầm tờ cáp ghi số lô thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ của Nguyễn Văn T3 01 tờ cáp lô đề.
- - Thu giữ của Đồng V Tập 01 tờ cáp lô đề và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 18E1-108.95.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn B số tiền 250.000 đồng và 01 tờ cáp lô đề.
- - Thu giữ của Nguyễn Thị T: 01 điện thoại di động Redmi Note 12 Pro 5G màu đen; 01 bút bi màu đen; 01 bút bi màu xanh; 01tờ giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước 18 x 29,5cm có ghi các chữ số bằng mực màu xanh; 03 tờ giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước 6,5 x 8,5cm; Số tiền 6.020.000 đồng.
Quá trình điều tra:
- - Nguyễn Thị T tự nguyện giao nộp số tiền 416.000 đồng, đây là số tiền Thơ ghi lô đề ngày 26/01/2024 trước khi bị bắt.
- - Cơ quan CSĐT xác định: Chiếc xe mô tô Honda Wave RSX, biển số 18E1-108.95 là tài sản hợp pháp của T2 dùng để đi lại; Số tiền 250.000 đồng là tài sản hợp pháp của Ba; Chiếc điện thoại di động Redmi Note 12 Pro 5G màu đen là tài sản hợp pháp của T. Các tài sản này không liên quan đến việc ghi lô đề trái phép vào ngày 26/01/2024, Cơ quan điều tra trả lại cho T2, Ba, Thơ các tài sản nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nhận xét trên.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS-TN ngày 23/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà:
- Bị cáo Nguyễn Thị T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận xét trên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho được cải tạo tại địa phương.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS:
Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Thơ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024)
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Thị T.
Vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền ghi lô đề trái phép 6.436.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu đen; 01 chiếc bút bi màu xanh; 03 tờ cáp kích thước 6,5 x 8,5cm (không ghi nội dung) là công cụ T sử dụng vào việc ghi lô, đề.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT; VKSND huyện Trực Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/01/2024, Nguyễn Thị T đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề trái quy định pháp luật cho Nguyễn Văn T3, Đồng Văn T2, Nguyễn Văn B và một số người khác với tổng số tiền đánh bạc là 6.436.000 đồng đã bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang hồi 17 giờ 50 phút cùng ngày. Hành vi ghi số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
3.1. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Số tiền bị cáo ghi lô, đề trái phép không lớn; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn: vợ chồng đã ly hôn, bị cáo hiện đang nuôi hai con còn nhỏ; Bị cáo tự giác giao nộp số tiền đánh bạc, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo Nguyễn Thị T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy về hình phạt xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với Nguyễn Văn T3, Đồng Văn T2 và Nguyễn Văn B là những người đã mua số lô, đề của T: Các đối tượng trên đều chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hay tội tổ chức đánh bạc hay gá bạc; Hành vi của những ngưởi nêu trên chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 28, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.
[7] Đối với những người ghi lô đề của Nguyễn Thị T vào ngày 26/01/2024 nhưng T không biết những người này là ai (trừ Nguyễn Văn T3, Đồng Văn T2 và Nguyễn Văn B) nên không có căn cứ để xử lý đối với những người này.
[8] Đối với bà Nguyễn Thị H1 là chủ nhà không biết việc T sử dụng nhà thuê của mình để bán số lô đề. Thời điểm bắt quả tang bà H1 cũng không có mặt nên không phạm tội.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.436.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T, đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc bút bi; 03 tờ cáp kích thước 6,5 x 8,5cm (không ghi nội dung) là công cụ T sử dụng vào mục đích đánh bạc.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với đối với bị cáo Nguyễn Thị T.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.436.000 đồng (sáu triệu, bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị T (số tiền trên đã được Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định vào ngày 03/5/2024).
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc bút; 03 tờ cáp kích thước 6,5 x 8,5cm không ghi nội dung (vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 39/THA ngày 06/5/2024 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, các Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28-5-2024 (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 01/02/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bùi Văn Dũng |
7
Bản án số 29/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 29/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
