Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG XUÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 05/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiến và bà Đặng Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu B - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Trần K (Tên gọi khác: Nô); Giới tính: Nam; Sinh năm1993, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12. Con ông Lê H, SN 1958 và bà Trần Thị T, sinh năm 1963; Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án: Ngày 25/8/2022 bị TAND thành phố Đà Lạt- tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (chấp hành xong ngày 17/5/2023).

- Tiền sự: Không;

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/07/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, có mặt

2. Trần Tô Hoài V (Tên gọi khác: Bét); Giới tính: N; Sinh năm: 1991, tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Tô Ngọc C, SN : 1965 và bà Trần Thị T1, SN:1964. Bị cáo chưa có vợ, con.

- Tiền án; tiền sự: Không;

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/7/2024 đến nay tại xã X- huyện Đ. Có mặt

* Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, Phú Yên. Vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đoàn Minh K1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố C, phường Đ, TP ., tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

* Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1932; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, Phú Yên. Vắng mặt

- Trần Thị T1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01/5/2024, Trần Tô Hoài V mượn xe mô tô BKS: 49S3- 0966 của Đoàn Minh K1 chở Lê Trần K từ thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng đến nhà của bà Nguyễn Thị Đ (bà ngoại của V) ở thôn T - xã X- huyện Đ chơi. Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 02/5/2024, V để xe mô tô của K1 tại nhà bà Đ rồi cùng với K đi bộ đến chùa P do ông Nguyễn Ngọc H1 làm chủ trì ở thôn T để ngủ.

Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, thấy chùa không có người trông coi nên V và K nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, V đứng bên ngoài cảnh giới còn K đi vào phòng ngủ của ông H1 lấy trộm 01 chìa khóa xe mô tô, 01 chiếc ba lô bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu HP Core I3. Khi ra khỏi phòng ngủ, thấy xe mô tô BKS: 78H2 – 1330 của ông H1 đang dựng gần đó nên cả hai thống nhất lấy trộm chiếc xe này. K đưa chìa khóa xe cho V cắm vào ổ khóa và khởi động xe chở K đi về nhà bà Đ. Sau đó, V điều khiển xe mô tô BKS: 49S3 – 0966 còn K điều khiển xe mô tô BKS: 78H2 – 1330 chở chiếc ba lô đi đến thị xã S để tìm nơi bán tài sản trộm cắp được. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, do không tìm được nơi bán tài sản nên cả hai cùng điều khiển xe mô tô lưu hành trên tuyến Quốc lộ A đi về

hướng N. Khi đến khu vực cầu N thuộc huyện T, V không thấy K chạy phía sau nên V điều khiển xe đi về nhà bà Đ. Còn K điều khiển xe mô tô BKS: 78H2 - 1330 đến địa phận tỉnh Khánh Hòa. K dừng lại bán chiếc máy tính cho một tiệm sửa chữa máy tính ở bên đường (không xác định được địa chỉ) được số tiền 100.000 đồng. K tiếp tục điều khiển xe đi đến phường M - thành phố P T - tỉnh Ninh Thuận thì xe hết xăng nên K bỏ xe mô tô và chiếc ba lô lại rồi tẩu thoát. Xe mô tô BKS: 78H2 - 1330 được người dân mang đến Công an phường M giao nộp. Riêng xe mô tô BKS: 49S3- 0966, bà Trần Thị T1 (mẹ ruột của V) đã trả lại cho anh Đoàn Minh K1.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTTHS ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Đ, kết luận: Tổng giá trị tài sản mà Lê Trần K và Trần Tô Hoài V chiếm đoạt là 3.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án: (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSĐX ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Trần Tô Hoài Vũ và Lê Trần K về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Kiểm sát viên luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Kết luận các bị cáo Trần Tô Hoài V và Lê Trần K phạm tội: "Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Tô Hoài V và Lê Trần K phạm tội: Trộm cắp tài sản.

* Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Trần K từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (13/07/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt: Trần Tô Hoài V từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã X giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù theo quy định tại điều 65 BLHS.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản (Xe mô tô) riêng máy tính xách tay hiệu HP Co reI3 không có yêu cầu, nên đề nghị HĐXX không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, đồ vật không có giá trị sử dụng:

  • 01 (một) Cái áo thun có cổ màu xanh trắng.
  • 01 (một) Cái quần Jeans lửng, màu xanh.
  • 01 (một) Cái quần sọt thun màu đen vàng đỏ trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 của cơ quan CSĐT công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

* Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Tô Hoài V và Lê Trần K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/5/2024, tại chùa P thuộc thôn T - xã X- huyện Đ, Lê Trần K và Trần Tô Hoài V đã lén lút lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Ngọc H1 với tổng giá trị tài sản là 3.500.000 đồng.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Do lười biếng lao động, coi thường pháp luật, các bị cáo Trần Tô Hoài V và Lê Trần K đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản với tổng giá trị 3.500.000 đồng của ông Nguyễn Ngọc H1. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân ở địa phương.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của từng bị cáo, thấy rằng:

- Đối với Lê Trần K: Đã có một Tiền án: Ngày 25/8/2022 bị TAND thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội có cùng tính chất, nên thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, không có ý thức cải tạo để trở thành người công dân tốt cho xã hội, mà còn tiếp tục phạm tội. Vì vậy áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt nghiêm đối với bị cáo, và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, giảm nhẹ phần nào hình phạt tù cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

Đối với Trần Tô Hoài V: Không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, nên áp dụng Điều 65 BLHS không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, đồ vật không có giá trị sử dụng:

  • 01 (một) Cái áo thun có cổ màu xanh trắng.
  • 01 (một) Cái quần Jeans lửng, màu xanh.
  • 01 (một) Cái quần sọt thun màu đen vàng đỏ trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 của cơ quan CSĐT công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

* Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Trần K, Trần Tô Hoài V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tô Hoài V và Lê Trần K phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Lê Trần K 09 (Chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (13/07/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.

Xử phạt: Trần Tô Hoài V 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo,

thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã X giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ của người được hưởng án treo có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 65 BLHS.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, đồ vật không có giá trị sử dụng:

  • 01 (một) Cái áo thun có cổ màu xanh trắng.
  • 01 (một) Cái quần Jeans lửng, màu xanh.
  • 01 (một) Cái quần sọt thun màu đen vàng đỏ trắng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 của cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Xuân).

* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Trần K, Trần Tô Hoài V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

* Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND huyện Đồng Xuân;
  • - Công an huyện Đồng Xuân;
  • - CC THADS huyện Đồng Xuân;
  • - Những người tham gia tố tụng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger