Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đoàn

Bà Lâm Thị Vèn

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nông Thị X, sinh ngày: 26/01/1969 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/10; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nông Văn H (đã chết) và bà: Lý Thị N, sinh năm 1940 (đã chết). Có chồng là Lưu Văn S, sinh năm 1964 và 02 người con, con thứ nhất sinh năm 1990, con thứ hai sinh năm 1994. Cùng trú tại: thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh chị em ruột: Có 08 người, bị cáo là thứ năm. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 04/7/2024 đến ngày 13/7/2024 và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.

2. Vy Văn N1, sinh ngày: 20/8/1954 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vy Văn L (tức Vy Văn L1), sinh năm 1930 (đã chết) và bà: Lâm Thị T, sinh năm 1933 (đã chết). Có vợ là Triệu Thị Í, sinh năm 1961 và 02 người con, con thứ nhất sinh năm 1982, con thứ hai sinh năm 1984. Cùng trú tại: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh chị em ruột: Có 09 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 04/7/2024 đến ngày 13/7/2024 và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Hoàng Thị L2, sinh năm 1994. Vắng mặt.
  2. Ông Đàm Văn Q, sinh năm 1982. Vắng mặt.
  3. Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1967. Vắng mặt.
  4. Cùng địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  5. Bà Đàm Thị B, sinh năm 1974. Vắng mặt.
  6. Ông Lý Văn N2, sinh năm 1965. Vắng mặt.
  7. Cùng địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  8. Ông Lý Văn T2, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  9. Anh Lâm Văn Y, sinh năm 1996. Vắng mặt.
  10. Cùng địa chỉ: thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  11. Ông Đàm Văn S1, sinh năm 1949. Vắng mặt.
  12. Ông Lâm Văn S2, sinh năm 1957. Có mặt.
  13. Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

  14. Ông Triệu Văn T3, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lâm Văn T4, sinh năm 1993.
  2. Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

  3. Bà Phương Thị K, sinh năm 1960.
  4. Địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

  5. Ông Hoàng Văn T5, sinh năm 1971.
  6. Địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 04/7/2024, Tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang Vy Văn N1, sinh năm 1954, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và Lâm Văn Y, sinh năm 1996, trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề tại nhà của Vy Văn N1, thu giữ 02 (hai) tờ giấy kẻ ngang (cáp đề, bảng đề); 01 (một) điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Oppo của Vy Văn N1; số tiền 100.000 đồng Lâm Văn Y đang thanh toán mua số lô, số đề với Vy Văn N1.

Vy Văn N1 khai nhận: 01 (một) tờ cáp đang ghi số lô, số đề ngày 04/7/2024 cho Lâm Văn Y, 01 (một) tờ cáp ghi số lô, số đề ngày 02/7/2024, 03/7/2024 Vy Văn N1 đã chụp ảnh chuyển cho Nông Thị X, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vy Văn N1, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 19 giờ 00 ngày 04/7/2024, Nông Thị X đã đến Công an xã Q, huyện B để đầu thú về hành vi đánh bạc. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Thị X, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan. Nông Thị X đã giao nộp 01 (một) điện thoại Vivo màu xanh trắng sử dụng vào việc đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định: Vy Văn N1 và Nông Thị X thỏa thuận bán số lô, số đề từ khoảng tháng 04/2024. Vy Văn N3 là thư ký trực tiếp bán số lô, số đề cho khách và chuyển bảng đề cho Nông Thị X là chủ đề để tính thắng thua. Hằng ngày, người mua số lô, số đề trực tiếp đến nhà hoặc gọi điện đến số điện thoại 0362.237.xxx của Vy Văn N1 hoặc gọi, nhắn tin qua ứng dụng Zalo, mang tên “Vi Slay”, đăng ký số điện thoại 0362.237.xxx. Sau đó, Vy Văn N1 tổng hợp các số lô, số đề vào bảng đề và dùng điện thoại chụp ảnh bảng đề và gửi cho Nông Thị X qua ứng dụng Zalo, tên tài khoản “Nong Xanh” đăng ký số điện thoại 0388.468.xxx. Vy Văn N1 được hưởng lợi 1.000 đồng/ điểm lô và 20% tiền bán số đề. Nông Thị X và Vy Văn N1 thỏa thuận không thanh toán tiền cho nhau từng ngày mà Vy Văn N1 tự cân đối tiền thắng thua để trả thưởng cho khách. Khoảng 10 đến 15 ngày hai bị can sẽ tính toán tiền thắng thua và tiền hoa hồng với nhau và thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt.

Hình thức đánh bạc mua bán số lô, số đề được quy định như sau:

  • - Số lô gồm hai số tự nhiên từ 00 đến 99, mỗi số được tính là 01 điểm lô, 01 điểm lô bán với giá 23.000 đồng. Nếu số lô nào trùng với hai số cuối cùng của tám giải thưởng Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng vào lúc 18 giờ 30 phút cùng ngày thì người mua số lô sẽ được trả 80.000 đồng. Tương đương tỉ lệ trúng thưởng 01/80. Nếu 01 số lô trùng với hai số cuối cùng của nhiều giải thưởng thì chỉ tính tối đa 03 lần trúng (tức là 03 “nháy”).
  • - Số đề hai số gồm hai số tự nhiên từ 00 đến 99, mỗi số được tính là 01 điểm đề. Số đề ba số (ba càng) gồm ba số tự nhiên từ 000 đề 999. 01 điểm đề bán với giá 1.000 đồng. Ngoài ra còn có đề đầu kép (00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) tính tương tự như số đề hai số. Đối với số đề hai số, đầu kép: Tỷ lệ trúng thưởng là 01/70. Nếu số đề hai số, số đề đầu kép nào trùng với hai số cuối cùng của giải đặc biệt Xổ số kiến thiết miền B thì người mua số đề, đầu kép sẽ được trả 70.000 đồng/ điểm. Đối với số đề ba số (ba càng): Tỷ lệ trúng thưởng là 01/350. Nếu số đề nào trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì người mua được trả 350.000 đồng/ điểm.

Cơ quan điều tra đã làm rõ: Vy Văn N1 đã bán số lô, số đề cho nhiều người trong các ngày 02, 03, 04/7/2024. Trong đó, ngày 02 và 03/7/2024, Vy Văn N1 đã chụp ảnh bảng đề chuyển cho Nông Thị X để tổng hợp và xác định kết quả thắng thua. Ngày 04/7/2024, Vy Văn N1 chưa kịp tổng hợp và chuyển cho Nông Thị X thì bị bắt quả tang. Cụ thể các lần đánh bạc như sau:

1. Ngày 02/7/2024:

  • - Lâm Văn T4, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề 87 x 20.000 đồng; Số lô 87 x 10 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 250.000 đồng. Lâm Văn T4 không trúng thưởng và đã thanh toán tiền mua số lô, số đề cho Vy Văn N1.
  • - Phương Thị K, sinh năm 1960, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 86 x 2.000 đồng, 68 x 20.000 đồng. Tổng số 22.000 đồng. Phương Thị K không trúng thưởng, đã thanh toán cho Vy Văn N1.
  • - Đàm Văn Q, sinh năm 1982, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 05, 75 x 2.000 đồng = 4.000 đồng, 15 x 3.000 đồng; Số lô 75 x 01 điểm = 23.000 đồng. Tổng số 30.000 đồng. Đàm Văn Q không trúng thưởng và chưa thanh toán tiền mua số lô, số đề cho Vy Văn N1.
  • - Đàm Văn S1, sinh năm 1949, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 22, 11 x 10.000 đồng = 20.000 đồng; Số lô: 22 x 08 điểm, 11 x 02 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 250.000 đồng. Đàm Văn S1 không trúng thưởng và đã thanh toán tiền cho Vy Văn N1.
  • - Lý Văn T2, sinh năm 1971, trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 02, 20, 23, 32, 67, 76, 27, 24, 08, 54 x 2.000 đồng = 20.000 đồng; 10, 12 x 5.000 đồng = 10.000 đồng; 01, 21 x 10.000 đồng = 20.000 đồng. Số lô: 66 x 10 điểm, 35 x 20 điểm = 690.000 đồng. Tổng số 740.000 đồng. Lý Văn T2 trúng số đề 20 x 2.000 đồng được 140.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 860.000 đồng, thua 600.000 đồng. Đến ngày 04/7/2024, Lý Văn T2 đã trả 600.000 đồng cho Vy Văn N1.
  • - Đàm Thị B, sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 01, 10, 11, 22 x 3.000 đồng = 12.000 đồng; đề đầu kép (00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) x 3.000 đồng = 30.000 đồng; Số lô 01, 10, 06, 88, 66 x 01 điểm = 115.000 đồng. Tổng số 157.000 đồng. Đàm Thị B trúng số lô 01 x 01 điểm được 80.000 đồng. Tổng số tiền Đàm Thị B đánh bạc là 237.000 đồng. Đàm Thị B đã thanh toán tiền mua số lô, số đề và nhận tiền trúng thưởng từ Vy Văn N1.
  • - Lý Văn N2, sinh năm 1965, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số: 59, 29, 28, 93 x 5.000 đồng = 20.000 đồng, 95, 82, 39, 93 x 10.000 đồng = 40.000 đồng; Số lô 39, 93 x 05 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 290.000 đồng. Lý Văn N2 trúng số lô 39 x 05 điểm hai lần được 800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.090.000 đồng. Lý Văn N2 đã thanh toán tiền mua số lô, số đề và nhận tiền trúng thưởng.
  • - Một số người trực tiếp đến ghi lô, đề với Vy Văn N1 nhưng Vy Văn N1 không biết tên, tuổi và địa chỉ. Gồm: Số đề hai số: 68 x 12.000 đồng; 86, 01, 10 x 2.000 đồng = 6.000 đồng. Số lô: 61 x 01 điểm = 23.000 đồng; 17, 77, 66, 87 x 02 điểm = 184.000 đồng. Tổng số 225.000 đồng. Trong đó, số lô 61 trúng 01 điểm được 80.000 đồng, 77 trúng 02 điểm được 160.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 465.000 đồng. Những người này đã thanh toán tiền mua cho Vy Văn N1, riêng người trúng số lô 61, 77 chưa đến nhận thưởng.

Tổng số tiền ghi số lô, số đề là 1.964.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 1.260.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 02/7/2024 là: 3.224.000 đồng. Số tiền Vy Văn N1 được hưởng lợi từ việc bán lô đề ngày 02/7/2024 là 122.800 đồng.

2. Ngày 03/7/2024:

  • - Lý Văn N2 tiếp tục mua số đề hai số 55, 58 x 20.000 đồng = 40.000 đồng, 88 x 50.000 đồng = 50.000 đồng, số đề ba số 255, 258, 388 x 50.000 đồng = 150.000 đồng; Số lô 55, 58 x 05 điểm = 230.000 đồng, 88 x 10 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 700.000 đồng. Lý Văn N2 không trúng thưởng, đã thanh toán tiền cho Vy Văn N1.
  • - Đàm Văn S1 tiếp tục mua số đề hai số 22, 77 x 5.000 đồng = 10.000 đồng, 02, 20 x 1.000 đồng = 2.000 đồng; Số lô 22, 77 x 05 điểm = 230.000 đồng, 49 x 02 điểm = 46.000 đồng, 94 x 03 điểm = 69.000 đồng. Tổng số 357.000 đồng. Đàm Văn S1 trúng số lô 94 x 03 điểm = 240.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 597.000 đồng. Vy Văn N1 và Đàm Văn S1 đã thanh toán tiền với nhau.
  • - Hoàng Văn T1, sinh năm 1967, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số 00, 93 x 10.000 đồng = 20.000 đồng, 59, 95, 39 x 5.000 đồng = 15.000 đồng; Số lô 00, 67, 93 x 02 điểm = 138.000 đồng. Tổng số 173.000 đồng. Hoàng Văn T1 không trúng thưởng và chưa thanh toán tiền cho Vy Văn N1.
  • - Triệu Văn T3, sinh năm 1970, trú tại thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số 07 x 16.000 đồng, 70 x 3.000 đồng, 67, 85 x 20.000 đồng = 40.000 đồng, 17 x 5.000 đồng, 62 x 30.000 đồng, 97 x 10.000 đồng, 43, 77 x 6.000 đồng; Số lô 40, 57, 91 x 15 điểm = 1.035.000 đồng; 47, 74 x 05 điểm = 230.000 đồng; 56, 66 x 03 điểm = 138.000 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề là 1.519.000 đồng. Triệu Văn T3 trúng số lô 66 x 03 điểm = 240.000 đồng, số lô 91 x 15 điểm = 1.200.000 đồng, số lô 57 x 15 điểm = 1.200.000 đồng, tổng số tiền trúng là 2.640.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 03/7/2024 là 4.159.000 đồng. Triệu Văn T3 và Vy Văn N1 chưa thanh toán tiền với nhau.
  • - Hoàng Văn T5, sinh năm 1971, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số đề hai số 77 x 20.000 đồng; Số lô 12, 87 x 05 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 250.000 đồng. Hoàng Văn T5 không trúng thưởng, đã thanh toán tiền cho Vy Văn N1.
  • - Lâm Văn S2, sinh năm 1957, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số lô 41 x 01 điểm = 23.000 đồng; Số đề hai số 01, 10, 05, 15, 51, 25, 52, 45 x 1.000 đồng = 8.000 đồng; 54, 50 x 2.000 đồng = 4.000 đồng; Số đề ba số 157 x 3.000 đồng. Tổng số 38.000 đồng. Lâm Văn S2 không trúng thưởng và chưa thanh toán.
  • - Lâm Văn Y, sinh năm 1996, trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số lô 02, 20, 92, 11 x 01 điểm = 92.000 đồng; 98, 66, 87 x 02 điểm = 138.000 đồng; 00, 88 x 10 điểm = 460.000 đồng; Số đề hai số: 28 x 30.000 đồng, 20 x 20.000 đồng, 29 x 4.000 đồng; 33 x 10.000 đồng; 03, 30 x 1.000 đồng = 2.000 đồng; 02, 10 x 5.000 đồng = 10.000 đồng; 57, 75 x 7.000 đồng = 14.000 đồng; 01 x 50.000 đồng. Tổng số 830.000 đồng. Lâm Văn Y trúng số lô 66 x 02 điểm được 160.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 03/7/2024 là 990.000 đồng. Lâm Văn Y đã thanh toán tiền mua số lô, số đề cho Vy Văn N1 nhưng chưa nhận tiền trúng thưởng.
  • - Lâm Văn T4 tiếp tục mua số lô 87 x 10 điểm = 230.000 đồng nhưng không trúng thưởng, đã thanh toán cho Vy Văn N1.
  • - Lý Văn T2 tiếp tục mua số lô: 70 x 20 điểm = 460.000 đồng; 88 x 10 điểm = 230.000 đồng. Tổng số 690.000 đồng. Lý Văn T2 trúng số lô 70 x 20 điểm = 1.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 03/7/2024 là 2.290.000 đồng. Sau khi bù trừ số tiền thắng thua ngày 02 và 03/7/2024 thì Vy Văn N1 phải trả cho Lý Văn T2 là 310.000 đồng. Ngày 04/7/2024, Vy Văn N1 đã thanh toán cho Lý Văn T2 310.000 đồng.

Số tiền ghi số lô, số đề ngày 03/7/2024 là 4.787.000 đồng. Số tiền trúng thưởng là 4.640.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 03/7/2024 là 9.427.000 đồng. Số tiền Vy Văn N1 được hưởng lợi từ việc bán lô đề ngày 03/7/2024 là 298.600 đồng.

3. Ngày 04/7/2024:

  • - Lý Văn N2 tiếp tục mua số đề hai số: 39, 38 x 10.000 đồng; 55 x 20.000 đồng; 03 x 50.000 đồng; đề ba số: 388 x 20.000 đồng; Số lô 38 x 01 điểm. Tổng số 133.000 đồng. Lý Văn N2 đã thanh toán cho Vy Văn N1.
  • - Đàm Văn Q tiếp tục mua số đề hai số: 24 x 2.000 đồng; 12 x 3.000 đồng; 14 x 5.000 đồng; đề ba số: 112 x 5.000 đồng. Tổng số 15.000 đồng, chưa thanh toán.
  • - Đàm Văn S1 tiếp tục mua số đề hai số: 66 x 5.000 đồng; Số lô: 53, 66 x 01 điểm, 35 x 05 điểm. Tổng số 166.000 đồng, chưa thanh toán.
  • - Phương Thị K tiếp tục mua số đề hai số: 08, 80, 00, 88 x 2.000 đồng = 8.000 đồng. Phương Thị K đã thanh toán.
  • - Lâm Văn S2 tiếp tục mua số đề hai số: 95, 11, 76, 67, 78, 87, 01, 58, 85, 54, 45 x 1.000 đồng; 59, 33, 44, 48, 84 x 2.000 đồng; 55 x 3.000 đồng; 88, 99 x 10.000 đồng, đầu kép (00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) x 1.000 đồng = 10.000 đồng. Tổng số 54.000 đồng. Lâm Văn SLáy chưa thanh toán.
  • - Lý Văn T2 tiếp tục mua số lô: 93 x 10 điểm, 35 x 20 điểm. Tổng số 690.000 đồng, chưa thanh toán.
  • - Hoàng Thị L2, sinh năm 1994, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn mua số lô 67 x 10 điểm, 05 x 20 điểm. Tổng số 690.000 đồng. Hoàng Thị L2 chưa thanh toán.
  • - Lâm Văn Y tiếp tục mua số đề hai số: 23, 28, 29 x 5.000 đồng = 15.000 đồng, đang thanh toán thì bị bắt quả tang.
  • - Ngoài ra còn một người Vy Văn N1 không biết tên, tuổi địa chỉ mua số đề 87 x 10.000 đồng, đã thanh toán tiền cho Vy Văn N1.

Tổng số tiền đánh bạc ngày 04/7/2024 là 1.781.000 đồng. Vy Văn N1 chưa chuyển bảng đề cho Nông Thị X và chưa mở thưởng nên không tính thắng thua. Số tiền Vy Văn N1 được hưởng lợi theo thỏa thuận từ việc bán lô đề ngày 04/7/2024 là 111.400 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Vy Văn N1, Nông Thị X đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Vy Văn N1 trực tiếp ghi số lô, số đề, không có ai làm thư ký cho Vy Văn N1. Nông Thị X không chuyển số lô, số đề cho người khác. Ngoài Vy Văn N1 thì không có người khác làm thư ký cho Nông Thị X. Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Vy Văn N1 và Nông Thị X nhưng không thu giữ được thông tin gì liên quan đến hành vi đánh bạc những ngày trước đó do các bị cáo đã xóa ảnh và thu hồi tin nhắn Zalo.

Các đối tượng mua số lô, số đề đã giao nộp số tiền mua số lô, số đề mà chưa thanh toán cho Vy Văn N1 và số tiền trúng thưởng đã nhận, tổng cộng 4.805.000 đồng, bao gồm:

  • - Triệu Văn T3 giao nộp 1.519.000 đồng (tiền mua lô đề ngày 03/7/2024).
  • - Đàm Văn Q giao nộp 45.000 đồng (tiền mua lô đề ngày 02, 04/7/2024).
  • - Hoàng Thị L2 giao nộp 690.000 đồng (tiền mua số lô ngày 04/7/2024).
  • - Lý Văn T2 đã nhận số tiền trúng thưởng tổng cộng 1.740.000 đồng. Đã giao nộp 310.000 đồng tiền trúng thưởng và 690.000 đồng tiền đánh bạc (chưa thanh toán) ngày 04/7/2024, tổng cộng 1.000.000 đồng. Còn lại 1.430.000 đồng tiền trúng thưởng chưa giao nộp cho Cơ quan điều tra.
  • - Lâm Văn S2 giao nộp 92.000 đồng (tiền mua lô đề ngày 03, 04/7/2024).
  • - Hoàng Văn T1 giao nộp 173.000 đồng (tiền mua lô đề ngày 04/7/2024).
  • - Lý Văn N2 giao nộp 800.000 đồng (tiền trúng thưởng ngày 02/7/2024).
  • - Đàm Văn S1 giao nộp 406.000 đồng (gồm tiền trúng thưởng ngày 03/7/2024 là 240.000 đồng và tiền mua lô đề ngày 04/7/2024 là 166.000 đồng).
  • - Đàm Thị B giao nộp 80.000 đồng (tiền trúng thưởng ngày 02/7/2024).

Các đối tượng Lâm Văn T4, Lâm Văn Y, Phương Thị K, Lý Văn N2, Hoàng Thị L2, Lý Văn T2, Đàm Văn S1, Lâm Văn S2, Đàm Văn Q, Hoàng Văn T1, Triệu Văn T3, Đàm Thị B, Hoàng Văn T5 có hành vi đánh bạc mua số lô, số đề. Hành vi của các đối tượng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 350.000 đồng. Các đối tượng đã nộp phạt xong.

Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKS-BG ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Nông Thị X và Vy Văn N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

a) Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Vy Văn N1, Nông Thị X phạm tội Đánh bạc.

- Hình phạt chính:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 50, điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Vy Văn N1 từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nông Thị X từ 09 (chín) tháng đến 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.

- Hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

b) Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + Số tiền 15.000 đồng trong số tiền 100.000 đồng tạm giữ khi bắt quả tang đối với Vy Văn N1.
  • + Số tiền 4.805.000 đồng là tiền do Triệu Văn T3, Đàm Văn Q, Hoàng Thị L2, Lý Văn T2, Lâm Văn S2, Hoàng Văn T1, Lý Văn N2, Đàm Văn S1, Đàm Thị B giao nộp.
  • + 01 (một) điện thoại OPPO màu đen, cũ, đã qua sử dụng của Vy Văn N1.
  • + 01 (một) điện thoại VIVO màu xanh trắng, cũ, đã qua sử dụng của Nông Thị X.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01(một) tờ giấy kích thước 16,5cm x 19,5cm có các dòng kẻ chấm màu đen có ghi các số lô, số đề ngày 02/7/2024 và ngày 03/7/2024.
  • + 01 (một) tờ giấy kích thước 29,5cm x 35cm có các dòng kẻ chấm màu đen có ghi các số lô, số đề ngày 04/7/2024. Tờ giấy bị khuyết một bên góc khoảng 1/6 tờ giấy.

- Truy thu số tiền 1.430.000 đồng của Lý Văn T2.

- Truy thu số tiền 8.182.000 đồng của bị cáo Vy Văn N1.

- Trả lại số tiền 85.000 đồng trong số tiền 100.000 đồng tạm giữ khi bắt quả tang cho Lâm Văn Y.

c) Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có đơn xin xét xử vắng mặt và trong hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các vật chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, cụ thể: Từ ngày 02/7/2024 đến ngày 04/7/2024, Vy Văn N1 làm thư ký cho Nông Thị X (là chủ đề) để bán số lô, số đề cho nhiều người thu lợi bất chính. Số tiền đánh bạc của các bị cáo ngày 02/7/2024 là 3.224.000 đồng. Ngày 03/7/2024 bán số lô, số đề cho 09 người, tổng số tiền đánh bạc là 9.427.000 đồng. Ngày 04/7/2024 số tiền đánh bạc là 1.781.000 đồng, Vy Văn N1 chưa kịp chuyển bảng đề cho Nông Thị X thì bị Công an huyện B phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người có đủ năng lực tránh nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận biết được hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô đề để thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đây là vụ án hình sự mang tính chất đồng phạm giản đơn do các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nên cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra theo tội danh, hình phạt đã quy định tại Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.

[6] Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đến nay, bị cáo Vy Văn N1 đã đủ 70 tuổi trở lên nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bố đẻ bị cáo Vy Văn N1 là ông Vy Văn L (tức Vy Văn L1) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và bị cáo có anh trai ruột là liệt sĩ Vy Văn L3, bị cáo Nông Thị X đến Công an xã Q đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Xét thấy, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vy Văn N1 trực tiếp ghi số lô, số đề, không có ai làm thư ký cho Vy Văn N1. Bị cáo Nông Thị X tự làm chủ đề, không chuyển cho ai, không chuyển cho Công ty X1. Ngoài Vy Văn N1 thì không có người khác làm thư ký cho Nông Thị X. Số tiền đánh bạc của các bị cáo ngày 02/7/2024 là 3.224.000 đồng. Ngày 03/7/2024 số tiền đánh bạc là 9.427.000 đồng. Ngày 04/7/2024 số tiền đánh bạc là 1.781.000 đồng.

[9] Từ những phân tích trên, xét thấy, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Trong quá trình điều tra xác định bị cáo có nơi cư trú ổn định, lý lịch rõ ràng. Đến ngày xét xử, bị cáo Vy Văn N1 đã đủ 70 tuổi trở lên. Ngày 03/11/2024, con trai của bị cáo Nông Thị X là Lưu Thành Đ đã dùng xăng châm lửa đốt cháy toàn bộ nhà sàn của gia đình. Do đó, xác định các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2023/NQ-HĐTP ngày 15/4/2023 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đánh bạc đều có mục đích, động cơ vụ lợi, lẽ ra phải buộc các bị cáo nộp một khoản tiền sung quỹ Nhà nước theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có công việc ổn định, không có tài sản riêng để bảo đảm việc thi hành án, bị cáo Vy Văn N1 tuổi cao, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ.

[11] Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang ngày 04/7/2024, trong đó: 15.000 đồng là tiền Lâm Văn Y đánh bạc với Vy Văn N1, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 85.000 đồng cần trả lại cho Lâm Văn Y. Số tiền 4.805.000 đồng do Triệu Văn T3, Đàm Văn Q, Hoàng Thị L2, Lý Văn T2, Lâm Văn S2, Hoàng Văn T1, Lý Văn N2, Đàm Văn S1, Đàm Thị B giao nộp là tiền mua số lô, số đề và tiền trúng thưởng nhận từ Vy Văn N1, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền trúng thưởng của Lý Văn T2 ngày 02 và 03/7/2024 là 1.740.000 đồng đã nhận từ Vy Văn N1 và số tiền đánh bạc ngày 04/7/2024 là 690.000 đồng chưa thanh toán cho Vy Văn N1. Tổng cộng là 2.430.000 đồng. Vy Văn T6 đã giao nộp 1.000.000 đồng. Cần truy thu số tiền còn lại 1.430.000 đồng của Vy Văn T6; Đối với số tiền 8.182.000 đồng, trong đó: 5.142.000 đồng là tiền những người mua số lô, số đề đã thanh toán cho bị cáo Vy Văn N1 và 3.040.000 đồng tiền trúng thưởng nhưng bị cáo chưa trả thưởng. Các bị cáo khai nhận bị cáo X thường để lại cho bị cáo N1 một khoản tiền (nhưng không nhớ cụ thể) để hàng ngày bị cáo N1 dùng để bù trừ thanh toán tiền trúng thưởng cho những người mua số lô, số đề. Số tiền bị cáo sẽ trả thưởng nêu trên được lấy từ khoản tiền đó. Vì vậy, cần truy thu toàn bộ số tiền 8.182.000 đồng từ bị cáo Vy Văn N1. Đối với 01 (một) điện thoại OPPO màu đen, cũ, đã qua sử dụng của Vy Văn N1, 01 (một) điện thoại VIVO màu xanh trắng, cũ, đã qua sử dụng của Nông Thị X, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 02 (hai) tờ giấy bảng (cáp) đề, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Vy Văn N1 là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí.

[13] Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đều nhận tội như Cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

[14] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[15] Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Thị X;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vy Văn N1;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135; Điều 136; Điều 262; khoản 1 Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nông Thị X và Vy Văn N1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Nông Thị X 11 (mười một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 (hai mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Vy Văn N1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước gồm:

  • + Số tiền 15.000đ (mười lăm nghìn đồng) là tiền tang vật bắt quả tang.
  • + Số tiền 4.805.000đ (bốn triệu tám trăm linh năm nghìn đồng) là tiền các đối tượng Triệu Văn T3, Đàm Văn Q, Hoàng Thị L2, Lý Văn T2, Lâm Văn S2, Hoàng Văn T1, Lý Văn N2, Đàm Văn S1, Đàm Thị B giao nộp (hiện đang tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn);
  • + 01 (một) điện thoại OPPO màu đen, cũ đã qua sử dụng của Vy Văn N1, sinh năm 1954, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
  • + 01 (một) điện thoại VIVO màu xanh trắng, cũ đã qua sử dụng của Nông Thị X, sinh năm 1969, trú tại thôn B, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng sơn.

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01(một) tờ giấy kích thước 16,5cm x 19,5cm có các dòng kẻ chấm màu đen có ghi các số lô, số đề ngày 02/7/2024 và ngày 03/7/2024; 01 (một) tờ giấy kích thước 29,5cm x 35cm có các dòng kẻ chấm màu đen có ghi các số lô, số đề ngày 04/7/2024. Tờ giấy bị khuyết một bên góc khoảng 1/6 tờ giấy.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024).

- Truy thu bị cáo Vy Văn N1 số tiền 8.182.000 đồng (tám triệu một trăm tám mươi hai nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

- Truy thu ông Lý Văn T2 số tiền 1.430.000 đồng (một triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

- Trả lại cho anh Lâm Văn Y số tiền 85.000đ (tám mươi lăm nghìn đồng).

4. Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia;
  • - Công an huyện Bình Gia;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về đánh bạc

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Từ ngày 02/7/2024 đến ngày 04/7/2024, Vy Văn N làm thư ký cho Nông Thị X(là chủ đề) để bán số lô, số đề cho nhiều người thu lợi bất chính. Số tiền đánh bạc của các bị cáo ngày 02/7/2024 là 3.224.000 đồng. Ngày 03/7/2024 bán số lô, số đề cho 09 người, tổng số tiền đánh bạc là 9.427.000 đồng. Ngày 04/7/2024 số tiền đánh bạc là 1.781.000 đồng, Vy Văn N chưa kịp chuyển bảng đề cho Nông Thị X thì bị Công an huyện B phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger