TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 13-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Hoa – Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thị xã Quảng Trị và ông Nguyễn Văn Đồng – Giáo viên Trường trung học cơ sở Thành cổ thị xã Quảng Trị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên Tòa: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Quang T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2007, tại Quảng Trị; nơi cư trú:
Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thiện T1, sinh năm 1978, con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Lê Thiện T1, sinh năm 1980 là bố của bị cáo; Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 là mẹ của bị cáo; đều trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Lương C, sinh năm 1983, Trợ giúp viên - Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Như H1, sinh năm 1986, trú tại: Số nhà A đường N, Khu phố H, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Viết H2, sinh năm 1984; trú tại: Khu phố H, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04/6/2024, Lê Quang T điều khiển xe đạp của ông Lê Thiện T1 (là bố của T), đi từ nhà đến thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, để chơi. Khi ngang qua nhà số A đường N thuộc Khu phố H, Phường C, thị xã Q của chị Nguyễn Thị Như H1 - Sinh năm 1986, T thấy cửa phòng thông ra phía lan can trên tầng 2 hé mở nên nảy sinh ý định vào trộm cắp tài sản. Để thực hiện, T đi bộ ra phía sau trèo tường rào, leo lên tầng 2, rồi đi vào bên trong tìm tài sản nhưng không thấy. Do đó, T theo cầu thang đi xuống, vào phòng ngủ ở tầng 1 thì thấy có 01 con heo đất màu vàng trong dãy tủ thứ hai, sát cửa vào phòng nên lấy và đập xuống nền nhà thì thấy bên trong có tiền (gồm 146 tờ, trong đó: 31 tờ 500.000 đồng, 18 tờ 200.000 đồng, 51 tờ 100.000 đồng, 36 tờ 50.000 đồng, 05 tờ 20.000 đồng và 05 tờ 10.000 đồng. Tổng cộng là 26.150.000 đồng). Lúc này, T nghe tiếng mở cửa, liền cầm con heo đất cùng số tiền bên trong bỏ chạy đến dãy hành lang phía sau để trốn thoát nhưng cửa khóa kín nên quay lại thì bị chị H1 và người dân phát hiện, báo cho Công an thị xã Q đến bắt quả tang.
- Tại bản Kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 146 tờ giấy bạc nêu trên gửi đến giám định là tiền thật.
- Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1242/KLGĐ ngày 23/7/2024 của Trung tâm P kết luận đối với Lê Quang T:
“... *Trước thời điểm phạm tội:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1) + Động kinh cơn lớn (G40).
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
*Tại thời điểm phạm tội:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1) + Động kinh cơn lớn (G40).
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
*Thời điểm hiện tại:
a. Kết luận về y học: Chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ có tật chứng tác phong đáng kể (F70.1) + Động kinh cơn lớn (G40).
Đối tượng cần được điều trị ngoại trú.
b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi...”
Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 con heo đất màu vàng, đã bị đập vỡ; 03 mảnh vỡ sứ, bên ngoài màu vàng; 01 mũ lưỡi trai được làm bằng vải, màu đen; 01 cái áo khoác vải, dài tay, có mũ, màu đỏ - đen, trên áo có chữ “THE NORTH FACE"; 01 cái áo thun được làm bằng vải, ngắn tay, màu đen; 01 cái quần đùi được làm bằng vải, màu đen, tại vị trí túi sau bên phải có ký hiệu “SH 1986”; 01 chiếc xe đạp màu đỏ-đen; số tiền 26.150.000 đồng.
Tại cáo trạng số 28/CT-VKS-TXQT ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị đã truy tố Lê Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Quang T về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173; i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và được áp dụng Điều 91 Bộ luật Hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra số tiền 26.150.000 đồng đã thu hồi, trả cho bị hại chị Nguyễn Thị Như H1 là đúng quy định pháp luật. Chị H1 không yêu cầu nên không đề nghị xem xét gì thêm.
Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê Quang T2 01 chiếc xe đạp màu đỏ-đen.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 con heo đất màu vàng, đã bị đập vỡ; 03 mảnh vỡ sứ, bên ngoài màu vàng; 01 mũ lưỡi trai được làm bằng vải, màu đen; 01 cái áo khoác vải, dài tay, có mũ, màu đỏ - đen, trên áo có chữ “THE NORTH FACE"; 01 cái áo thun được làm bằng vải, ngắn tay, màu đen; 01 cái quần đùi được làm bằng vải, màu đen, tại vị trí túi sau bên phải có ký hiệu “SH 1986”. (Căn cứ Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS)
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Quang T.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Quang T. Đề nghị Hội đồng xét xử khi tuyên án cần cân nhắc một số tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lê Quang T phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, do bệnh tật nên bị cáo chỉ học đến lớp 6, bị cáo là người có khuyết tật bẩm sinh, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra bị cáo đã thần khẩn khai báo về hành vi của mình. Gia đình bị cáo thuộc trường hợp có hoàn cảnh khó khăn. Người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và được áp dụng Điều 91 Bộ luật Hình sự về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để xem xét mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đưa ra đối với hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục, răng đe bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Vào ngày 04/6/2024, tại nhà số A đường N thuộc Khu phố H, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Lê Quang T đã lén lút lấy trộm 26.150.000 đồng của chị Nguyễn Thị Như H1. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại bản Kết luận giám định số 676/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 146 tờ giấy bạc nêu trên gửi đến giám định là tiền thật. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn hưởng thụ, tiêu xài cá nhân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, cần phải xử phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bị cáo bị khuyết tật bẩm sinh, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội là người khuyết tật nặng”, “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, p, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị hại chị Nguyễn Thị Như H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên áp dụng thêm Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Lê Quang T vào thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo là người khuyết tật, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo phải thường xuyên đi khám bệnh và sử dụng thuốc động kinh. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Đối với ông Lê Thiện T1 để cho Lê Quang T điều khiển xe đạp đến trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Như H1 nhưng ông T1 không biết, nên không xem xét xử lý.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 26.150.000 đồng cho bị hại chị Nguyễn Thị Như H1. Sau khi nhận lại tài sản, chị Nguyễn Thị Như H1 không yêu cầu gì. Xét thấy việc trả lại tài sản bị trộm cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc 01 chiếc xe đạp màu đỏ-đen, ông Lê Thiện T1 không biết Lê Quang T dùng xe đạp của mình thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy việc trả lại vật chứng của cơ quan điều tra là đúng quy định pháp luật.
Tịch thu tiêu hủy các đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng: 01 con heo đất màu vàng, đã bị đập vỡ; 03 mảnh vỡ sứ, bên ngoài màu vàng; 01 mũ lưỡi trai được làm bằng vải, màu đen; 01 cái áo khoác vải, dài tay, có mũ, màu đỏ - đen, trên áo có chữ “THE NORTH FACE”; 01 cái áo thun được làm bằng vải, ngắn tay, màu đen; 01 cái quần đùi được làm bằng vải, màu đen, tại vị trí túi sau bên phải có ký hiệu “SH 1986”. (Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS)
[8] Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú nên huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo (Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự)
[9] Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Quang T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự huyện T, tỉnh Quảng Trị nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Lê Quang T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo là người bị khuyết tật nặng, hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, không có khả năng lao động nên không khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con heo đất màu vàng, có kích thước (24x17x15)cm, đã bị đập vỡ; 03 mảnh vỡ sứ, bên ngoài màu vàng gồm: mảnh thứ nhất, kích thước (10x4,7)cm; mảnh thứ hai, kích thước (9,8x4,8)cm; mảnh thứ ba, kích thước (2,7x3,8)cm; 01 mũ lưỡi trai được làm bằng vải, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo khoác vải, dài tay, có mũ, màu đỏ - đen, trên áo có chữ “THE NORTH FACE“; 01 áo thu được làm bằng vải, ngắn tay, màu đen; 01 quần đùi được làm bằng vải, màu đen, tại vị trí túi sau bên phải có ký hiệu “SH 1986“.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bảo chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Phương Tiến |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quang T pham tội "Trộm cắp tài sản"
