|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 28 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Minh Thật.
- Ông Nguyễn Hoàng Liêm.
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Nghề nghiệp: Giáo viên Trường Trung học phổ thông Tây Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí, kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh ngày: 09/8/2002 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (còn sống) và bà Nguyễn Thị L (còn sống); bị cáo có 02 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất là bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2023/HS-ST ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xử phạt Nguyễn Văn T 01 năm tù về tội cố ý gây thương tích, đến ngày 27/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Xấu.
- Phan Văn L1, sinh ngày: 15/02/2002 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ (còn sống) và bà Huỳnh Thị P (còn sống); bị cáo có 02 anh, chị, em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2012; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
- Nguyễn T1, sinh ngày: 27/3/2007 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 7 tháng 25 ngày; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp A, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành C (còn sống) và bà Trần Thị D (còn sống); bị cáo không có anh, chị, em ruột; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
- Phạm Văn M1, sinh ngày: 21/12/2005 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (còn sống) và bà Hồ Thị P1 (còn sống); bị cáo có 02 anh, chị, em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2011; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
- Võ Thành K, sinh ngày: 17/10/2007 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 01 tháng 04 ngày; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh L2 (còn sống) và bà Bùi Ngọc B (còn sống); bị cáo có 02 anh, chị, em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2017; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
- Danh Giang, sinh ngày: 26/8/2006 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 26 ngày; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Ấp B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh D1 (còn sống) và bà Thị Ú (còn sống); bị cáo có 03 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2007; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn T1: Bà Trần Thị D, sinh năm: 1982; nơi cư trú: Ấp A, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Công nhân, là mẹ của bị cáo (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Võ Thành K: Bà Bùi Ngọc B, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng, là mẹ của bị cáo (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Danh G: Ông Danh D1, sinh năm: 1980 và bà Thị Ú, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Ấp B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm ruộng, là cha mẹ của bị cáo (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn T1, Võ Thành K, D: Ông Huỳnh Cao C1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (có mặt).
- Bị hại: Lê Trí T2, sinh ngày: 16/6/2007; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hồ Thị L3; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Trương Thanh V – Là luật sư của Văn phòng L6 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T3. Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Trần Văn V1, Đào Duy T4, Phạm Thị L4 (vắng mặt).
- Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang: Ông Cao Thượng Đ1 – Phó Bí thư Xã Đ, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang: Ông Nguyễn Phước D2 – Bí thư Xã Đ, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 17 giờ ngày 21/11/2023, Nguyễn Văn T, Nguyễn T1, D, Phan Văn L1, Phạm Văn M1, Võ Thành K, và Đào Duy T4 tổ chức nhậu tại nhà của T4, nhậu đến khoảng 19 giờ thì M1 nhận được điện thoại của Hoàng E (chưa rõ nhân thân) rủ M1 đua xe, sau đó cả nhóm bàn bạc đồng ý đi đua xe, L1 hỏi M1 “nhóm Hoàng E có người nào tên T5 không?” thì M1 nói “có”, sau đó L1 kêu M1 điện thoại lại cho Hoàng E hỏi địa điểm ở đâu để L1 đánh T5 (do trước đó L1 và T5 có mâu thuẫn trong việc giành gái) chứ không có mục đích đua xe thì Hoàng E hẹn ra cua quẹo Út Nam thuộc ấp F, xã T. Sau đó T, L1, M1, K, G, T1 nghỉ nhậu, K điều khiển xe chở G, M1 đi trước, còn T1 chở T, L1 đi sau. Tới nơi hẹn thì gặp lực lượng Công an đi tuần nên cả hai nhỏm bỏ đi, sau đó, M1 điện thoại cho Hoàng E hẹn đến cầu C thuộc xã X để đua tiếp và chỉ đường cho nhóm Hoàng E đi từ hướng cầu T về cầu T thuộc ấp C, xã X. Lúc này, nhóm Hoàng E gồm có Hoàng E và T6 (chưa rõ nhân thân) đi chung xe, Lê Trí T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SAVANT màu xanh - đen không biển kiểm soát chở Trần Văn V1, khi đến cầu T, T2 và V1 không chạy lên cầu mà quẹo phải chạy theo nhóm của T, còn Hoàng E và T6 chạy qua cầu đi về nhà. Khi T2 và V1 chạy vô được khoảng 100m thì L1 nhảy xuống xe cầm nón bảo hiểm đánh Thức và V1 nhưng chỉ trúng T2, thấy bị chặn đánh nên T2 và V1 bỏ xe lại chạy vào nhà dân gần đó trốn. Lúc này, T và L1 thấy xe của T2 nằm trên lộ nên L1 kêu T đẩy xe của T2 xuống mé bờ kênh cho bỏ ghét. Sau đó, cả nhóm 06 người về nhà của T4 nhậu tiếp, đi được một đoạn thì M1 xuống xe ghé nhà bạn nhậu chỉ còn lại T, L1, G, K, T1. Khi đến trước cửa nhà T4, T và L1 xuống mé sông đi vệ sinh thì cả hai bàn tính quay lại vớt xe của T2 để đem đi cất giấu bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, sau khi bàn xong, T đi lên nói lại cho T1, K, G cùng nghe thì cả 05 người đều đồng ý quay lại vớt xe của T2. Khi đi được một đoạn thì cả nhóm gặp M1 rồi rủ M1 cùng đi vớt xe thì M1 đồng ý. Khi đến nơi, T1 lội xuống mé kênh đẩy xe của T2 lên còn T và M1 đứng phía trên nắm đuôi xe kéo lên. Khi đem xe lên bờ nhưng xe không chạy được nên cả nhóm đẩy xe T2 đi, sau đó T kêu T1 và G đem xe đi cất giấu, T1 và G kè xe của T2 đến nhà của Quách Thành L5 là bạn của T1 ở ấp A, xã V A thì gặp L5 và bà Phạm Thị L4 (bà ngoại của L5) nói gửi nhờ xe của bạn do bị té sông sáng hôm sau sẽ đến lấy nên bà L4 đồng ý cho gửi nhờ.
Còn Lê Trí T2 đến khoảng 22 giờ cùng ngày đã đến Công an xã X trình báo sự việc bị đánh và lấy trộm mất xe máy.
Tại kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh đen không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy có giá trị là 3.533.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong Cáo trạng đã nêu. Vào tối ngày 21/11/2023, sau khi bị đánh, bị hại Lê Trí T2 đã bỏ lại xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, lúc này Nguyễn Văn T đẩy xe của T2 xuống mé kênh thuộc khu vực ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Một lúc sau, Nguyễn Văn T và Phan Văn L1 nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của T2 để đem đi cất giấu bán lấy tiền chia nhau tiêu xài nên bàn bạc cùng với Nguyễn T1, Võ Thành K, Danh G và Phạm Văn M1 quay lại vớt xe của T2 thì tất cả đều đồng ý, thống nhất về mặt ý chí và thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô của bị hại có giá trị 3.533.000 đồng.
Bị hại Lê Trí T2 trình bày:
Vào khoảng 19 giờ ngày 21/11/2023, bị hại T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SAVANT màu xanh - đen không biển kiểm soát chở Trần Văn V1 đi chơi, khi đến đoạn cầu T thuộc ấp C, xã X thì bị 02 thanh niên đuổi đánh nên T2 và V2 chạy trốn bỏ lại chiếc xe. Khoảng 30 phút sau thì bị hại T2 quay lại nhưng không thấy chiếc xe nên trình báo sự việc với công an. Trong quá trình điều tra thì các bị cáo đã bồi thường cho bị hại T2 số tiền 3.000.000 đồng để sửa chữa xe và chi phí cho bị hại đi lại do xe đang bị công an tạm giữ. Việc bị hại bị T đánh không có thương tích nên không có yêu cầu giám định. Tại phiên tòa bị hại T2 không có yêu cầu gì thêm. Về hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn T1, Võ Thành K, D trình bày:
Ông Huỳnh Cao C1 thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2015 về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2015 cho các bị cáo Nguyễn T1, Võ Thành K, D được hưởng án treo. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu xem xét.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Trương Thanh V trình bày:
Ông V thống nhất với quan điểm truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa. Về trách nhiệm hình sự: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3 trình bày:
Trước đây ông T3 có bán chiếc xe một tô biển kiểm soát 95MA-0943 cho một tiệm sửa xe nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên. Ông đã giao xe và các giấy tờ đăng ký xe cho người mua. Trong vụ án này ông không có yêu cầu gì.
Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, ông Cao Thượng Đ1 trình bày:
Thống nhất với quan điểm truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa. Về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-HLM ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1, Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội trộm cắp tài sản. Đồng thời đánh giá phân tích về tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo Phan Văn L1, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1, Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Xử phạt bị cáo Phan Văn L1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Xử phạt các bị cáo Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng. Bị hại Lê Trí T2, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy, đã hư hỏng không kiểm tra tình trạng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự. Trả lại cho bị hại Lê Trí T2 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy, đã hư hỏng không kiểm tra tình trạng.
Tại phiên tòa các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã biết ăn năn, hối hận mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2]. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị cáo Danh G là ông Danh D1, bà Thị Ú, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3, người làm chứng Trần Văn V1, Đào Duy T4, Phạm Thị L4 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do. Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã V A ông Nguyễn Phước D2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 292 và 293 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 8 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vào tối ngày 21/11/2023, lợi dụng trời tối, bị hại bỏ lại tài sản mà không ai trông coi, quản lý mà các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1, Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy có giá trị 3.533.000 đồng.
Với hành vi của các bị cáo kết hợp với giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt, Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1 là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và Danh G mặc dù là người chưa thành niên nhưng đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều là người có nhận thức, có sức khoẻ, lẽ ra phải lao động chân chính để tạo ra thu nhập chính đáng, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, tôn trọng và bảo vệ tài sản của người khác. Các bị cáo thừa biết được việc làm sai trái của mình, nhưng chỉ vì lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ thành quả lao động của người khác và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại Lê Trí T2 mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến đời sống, công việc của người bị hại, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Phan Văn L1 tại thời điểm phạm tội trên 18 tuổi, thông qua việc khởi xướng, rủ rê của bị cáo T và lời nói của bị cáo L1 đã thúc đẩy các bị cáo T1, M1, K và G là người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo T và L1 phải chịu tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn T có 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm được điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1, Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K, D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Các bị cáo Phan Văn L1, Phạm Văn M1, Nguyễn T1, Võ Thành K, Danh G phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Ngoài ra, bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ cho các bị cáo. Bị cáo Phan Văn L1 và bị cáo Nguyễn T1 có ông nội là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6]. Xét về vai trò, tính chất, mức độ cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo là khác nhau nên khi quyết định hình phạt cũng có sự khác nhau:
Trong vụ án này có 06 bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên chỉ nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc chuẩn bị và phân công từ trước nên các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn.
[6.1]. Bị cáo Nguyễn Văn T là người có vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người đề xuất, rủ rê và cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trực tiếp vớt xe lên cùng với bị cáo T1 và M1. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội cố ý gây thương tích, sau khi chấp hành án xong bị cáo không sửa đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện tính xem thường pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức được hành vi của mình mà có hướng khắc phục trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6.2]. Đối với bị cáo Phan Văn L1 là người đã thành niên, xuất phát từ mâu thuẫn với T5 mà bị cáo L1 đã bàn bạc cùng với các bị cáo khác đi tìm địa điểm để đua xe với nhóm của T5 nhưng mục đích là để đánh T5. Sau khi nghe bị cáo Nguyễn Văn T bàn bạc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo L1 không từ chối và can ngăn để T từ bỏ thực hiện hành vi phạm tội mà cùng với T rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội. Xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo L1 và thanh niên tên T5, dẫn đến việc hẹn nhau đua xe, đánh bị hại T2 tạo điều kiện để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Đây cũng là bài học cho bị cáo cũng như các bị cáo khác trong việc hành xử sao cho đúng chuẩn mực và phù hợp với quy định của pháp luật.
[6.3]. Đối với các bị cáo Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K và D, tại thời điểm phạm tôi là người chưa đủ 18 tuổi nhưng có nhận thức, đáng lẽ khi được bị cáo T rủ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì phải kiên quyết từ chối. Nhưng ngược lại do thiếu ý thức và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã tham gia với vai trò là người giúp sức. Bị cáo T1 sau khi nghe bị cáo T và L1 bàn bạc quay lại vớt xe của T2 để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì bị cáo cũng đồng ý, bị cáo T1 cũng là người trực tiếp vớt xe cùng với bị cáo T và M1. Đối với bị cáo M1 không nghe các bị cáo bàn bạc nhưng khi được rủ quay lại vớt xe thì cũng đồng ý, khi đến nơi bị cáo cũng là người trực tiếp kéo xe lên cùng với bị cáo T và T1. Bị cáo K và bị cáo G cùng thống nhất quay lại vớt xe, sau khi bị cáo T, T1 và M1 vớt xe lên thì bị cáo K và G tham gia đẩy xe của bị hại đi cất giấu. Do đó, các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm chung với các bị cáo khác. Tuy nhiên, do các bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên được áp dụng các quy định của pháp luật về ngưới dưới 18 tuổi phạm tội.
[6.4]. Các bị cáo Phan Văn L1, Phạm Văn M1, Nguyễn T1, Võ Thành K, D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên chưa cần thiết buộc phải chấp hành hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.
[6.5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7]. Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý và quan điểm bảo vệ của luật sư tại phiên tòa về tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền 3.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị hại Lê Trí T2 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy, đã hư hỏng không kiểm tra tình trạng.
[10]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định pháp luật.
[12]. Về các vấn đề khác: Đối với bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi đẩy chiếc xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy của bị hại Lê Trí T2 đã làm hư hỏng bộ phận lọc gió của chiếc xe. Tại kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Bộ phận lọc gió bị hư hỏng của 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh đen không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy có giá trị là 71.000 đồng nên hình vi của bị cáo Nguyễn Văn T không đủ yếu tố cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phan Văn L1, Nguyễn T1, Phạm Văn M1, Võ Thành K, Danh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn phạt tù kể từ khi bị cáo chấp hành án.
2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn L1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phan Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.4. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn M1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.5. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Võ Thành K 06 (sáu) tháng tù nhưng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Võ Thành K cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2.6. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo D (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Danh G cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 3.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị hại Lê Trí T2 01 xe mô tô hiệu SAVANT, màu xanh - đen, không biển kiểm soát, không rõ số khung, số máy, đã hư hỏng không kiểm tra tình trạng. (Theo quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSLM-HS ngày 26/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn V và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
