|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 26-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Cao Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lô Thị Diễn
2. Bà Lê Thị Bảy
- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Bá T - sinh ngày: 19/5/1987, tại thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Bá T1 (đã chết); con bà: Lê Thị T2, sinh năm: 1964; có vợ là Lương Thị M (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2014;
Tiền án: Đã 02 lần bị kết án, chưa được xóa án tích, cụ thể:
- Bị xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2022/HSST ngày 10/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ngày 11/5/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
- Bị xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 43/2022/HS-ST ngày 29/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 26/10/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá (có mặt).
- Bị hại: Chị Đỗ Thị L - sinh năm: 1986; nơi thường trú: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Đình T3 - sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đình L1 - sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt);
- Anh Phùng Sỹ N - sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 09/6/2024, Lê Bá T, sinh năm 1987, trú tại khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển kiểm soát 36E1-329.48 chở theo anh Nguyễn Đình L1, sinh năm 1989, trú tại khu phố L, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, đến cửa hàng Đ, ở địa chỉ khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để bán điện thoại lấy tiền tiêu xài. Quá trình giao dịch, thấy trên mặt tủ kính trưng bày của cửa hàng có chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh của chị Đỗ Thị L, lợi dụng lúc chị L đi vào trong phòng lấy tiền, T đã lén lút trộm cắp chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần bên trái của mình. Sau khi giao dịch xong, T đi ra, lên xe chở L1 đi khỏi cửa hàng.
Sau khi T rời đi, chị L mới phát hiện bị mất trộm chiếc điện thoại nên đã kiểm tra lại hệ thống camera, biết T là người đã trộm cắp chiếc điện thoại của mình, chị L và anh Phùng Sỹ N (là chồng của chị L) đã báo cáo sự việc cho Công an thị trấn Y giải quyết. Qua truy tìm, thấy T đang ở quán N1, ở khu phố L, thị trấn Y, lực lượng Công an thị trấn Y đã yêu cầu T về trụ sở làm việc và thu giữ chiếc điện thoại Thảo trộm cắp được và các tang vật có liên quan.
Kết quả định giá tài sản tại Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-ĐGTS ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định: Chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh của chị L tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
Về việc tạm giữ, thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo Lê Bá T các đồ vật, vật chứng gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36E1-329.48.
Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L, bị bị cáo chiếm đoạt, còn chiếc xe mô tô là tài sản hợp pháp của anh Đinh Đình T3, sinh năm 1987, trú tại thôn L, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, anh T3 cho bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại, anh T3 không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi kiểm tra, đánh giá, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị L, anh T3 đều đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKSNX ngày 05/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Bá T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại - chị Đỗ Thị L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bá T giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bá T từ 30 tháng đến 36 tháng tù; thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - chị Đỗ Thị L đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (đã bị bị cáo chiếm đoạt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - anh Đinh Đình T3 đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36E1-329.48 (bị cáo mượn của anh T3 để làm phương tiện đi lại). Chị L, anh T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
- Về vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, dữ liệu camera đã thu giữ, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/6/2024, trong lúc đến cửa hàng điện thoại di động N ở khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để bán điện thoại di động, bị cáo Lê Bá T đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút, bí mật chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh trị giá 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) của chị Đỗ Thị L (chủ cửa hàng) để trên mặt tủ kính trưng bày của cửa hàng.
Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 01/2022/HSST ngày 10/01/2022; ngày 11/5/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Sau đó, bị cáo tiếp tục phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 43/2022/HS-ST ngày 29/11/2022 với tình tiết tăng nặng “tái phạm”; ngày 26/10/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích. Nay bị cáo tiếp tục phạm tội. Như vậy, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Bá T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Lê Bá T là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.
Bị cáo không có tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại - chị Đỗ Thị L đã nhận lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (đã bị bị cáo chiếm đoạt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - anh Đinh Đình T3 đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36E1-329.48 (bị cáo mượn của anh T3 để làm phương tiện đi lại). Chị L, anh T3 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36E1-329.48: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động này là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L, bị bị cáo chiếm đoạt, còn chiếc xe mô tô này là tài sản hợp pháp của anh Đinh Đình T3, anh T3 cho bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại, anh T3 không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi kiểm tra, đánh giá, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đỗ Thị L, anh Đinh Đình T3. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Đình L1, là người đi cùng với bị cáo Lê Bá T đến cửa hàng điện thoại Nhân L2, nhưng anh L1 không bàn bạc, thống nhất gì và không biết việc bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại di động của chị L2 nên anh L1 không có lỗi. Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh L1 là phù hợp; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2024.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Bá T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cao Cường |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Bá T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
