|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày 17 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Lứ và ông Bùi Văn Luận.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với bị cáo:
Lương Viết T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/02/1992 tại T - Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Viết L và bà Trần Thị N; bị cáo có vợ Đinh Thị H (đã ly hôn), có 01 con sinh năm2013; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 05/2019/HS-ST, đã chấp hành xong vào ngày 04/6/2019.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/5/2024, bị tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hà Thị T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; có mặt.
- + Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Viết T là người nghiện chất ma túy. Khoảng 05 giờ ngày 17/5/2024, T một mình điều khiển xe mô tô biển số 28E1 - 191.90 (Đây là xe Tới mượn của chị Hà Thị T1, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: Khu Đ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình) đi lên khu vực xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy. Khi đi đến đoạn khu vực cổng chợ X thuộc xã P, huyện M, T nhìn thấy một người đàn ông không quen biết, không rõ lai lịch, địa chỉ (có đặc điểm khoảng 45 tuổi, cao khoảng 1m65, dáng người gầy, đeo khẩu trang màu đen, mặc áo ngắn tay màu đen, quân giàn di). Người đàn ông trên đi xe mô tô loại xe Wave màu đỏ đen, trông giống người nghiện ma túy, đang dừng đỗ xe ngay cổng chợ. Tới đã xuống xe và lại gần hỏi thăm: “Anh biết chỗ nào bán ma túy không?”, người đàn ông trả lời: “Có, lấy loại gì?”. T nói: “Em muốn lấy 150.000 đồng hồng phiến”. Người đàn ông trên bảo T đứng đợi, sau đó điều khiển xe hướng vào phía trong chợ. Khoảng 15 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho T 01 (một) gói được quấn bằng băng dính màu đen. Tới mở gói trên ra thấy bên trong là lớp băng dính màu trắng, trong cùng là ma túy loại hồng phiến nên đã trả số tiền 150.000 đồng cho người đàn ông trên như đã thỏa thuận, sau đó cầm gói ma túy ở bàn tay trái rồi điều khiển xe trở về nhà. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, T đi về đến đoạn đường thuộc khu Đ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì gặp tổ công tác Công an huyện T ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện T cầm 01 (một) gói quấn băng dính màu đen ở trong bàn tay trái. T khai nhận đây là gói ma túy vừa mua được đang trên đường mang về nhà để sử dụng. Tổ công tác đã đưa Lương Viết T cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 245/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận về đối tượng giám định: “Chất bột màu hồng trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ vụ Lương Viết T, sinh năm 1992, nơi thường trú: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình có hành vi phạm tội về ma túy –Xảy ra tại khu Đ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình ngày 17/5/2024” gửi giám định có khối lượng 0,35g (Không phẩy ba mươi lăm gam), là ma túy, loại Methamphetamine."
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố Lương Viết Tới về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng và không kêu oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Viết T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lương Viết T từ 14 đến 18 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng trên 5 triệu đồng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và các hình phạt bổ sung khác đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thuy tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Lương Viết T, sinh năm: 1992 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 17 tháng 5 năm 2024. Tại: thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- + Trả lại chị Hà Thị T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 28E1 - 191.90.
- - Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phì hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến tranh luận:
Bị cáo nhất trí với luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị tạm gian, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/5/2024, tại đoạn đường thuộc khu Đ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình, Lương Viết T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng
0,35 gam (không phẩy ba mươi lăm gam), là ma túy, loại Methamphetamine trong người nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để lao động lương thiện trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội để có ma túy sử dụng. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bác ruột Trần Ngọc N1 (anh trai của mẹ bị cáo) là liệt sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước năm 1968, được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng, huy chương chiến sĩ giải phóng năm 1975, quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, làm nghề tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Do vậy, Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và các hình phạt bổ sung khác đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[6] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ, gồm:
- + 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Lương Viết T, sinh năm: 1992 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 17 tháng 5 năm 2024. Tại: thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Đây là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 28E1 - 191.90 của chị Hà Thị T1. Ngày 16/5/2024, bị cáo mượn xe của chị T1 để đi lại nhưng chị T1 không biết bị cáo T sử dụng để đi mua ma túy. Do vậy, cần trả lại cho chị Hà Thị T1 là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lương Viết T ngày 17/5/2024 tại địa phận chợ X thuộc xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã phối hợp với Công an xã P, huyện M xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng như mô tả nên chưa có căn cứ xử lý trong vụ án này.
[8] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Viết T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Viết T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Lương Viết T, sinh năm: 1992 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 17 tháng 5 năm 2024. Tại: thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- - Trả lại chị Hà Thị T1 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 28E1 - 191.90.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/BB-THA ngày 26/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hữu Doanh |
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Viết T- Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Kết quả giải quyết: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Viết T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Viết T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/5/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng K - Công an tỉnh H, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Lương Viết T, sinh năm: 1992 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 17 tháng 5 năm 2024. Tại: thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng K - Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. - Trả lại chị Hà Thị T1 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 28E1 - 191.90. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/BB-THA ngày 26/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình). 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
