Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quốc Nhã

Ông Lê Minh Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 815/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với:

  1. Bị cáo: Trương Văn L ngày 05 tháng 3 năm 1974 tại thị xã A, tỉnh Bình Địnhnơi cư trú: Số nhà I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Địnhnghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương B(chết) và bà Tô Thị H năm 1930; vợ: Nguyễn Thị H1sinh năm 1976; có 03 người con là Trương Ái N năm 1997, Trương Minh K năm 2005, Trương Linh Đ năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  2. Người bị hại: Anh Lê Minh T năm 1988; nơi cư trú: Số nhà I, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

  3. Người làm chứng:

    • 3.1. Bà Đặng Thị H1 năm 1964; Số nhà I Đô Đốc L, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;

    • 3.2. Chị Nguyễn Thị H2 năm 1976; Số nhà I Đô Đốc L, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;

    • 3.3. Anh Trần Công T1sinh năm 1997; nơi cư trú: Số nhà B, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;

    • 3.4. Chị Tôn Thị Thanh T1 năm 1974; nơi cư trú: Số nhà A, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Trương Văn L1 bà Đặng Thị H3(sinh năm 1964, ở 9 Đô Đốc L, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Địnhnhà ở cạnh bên là hai chị em ruột nhưng cùng mẹ khác cha) thường xuyên xảy ra mâu thuẫn kình cãi. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/10/2023, Trương Văn L2 trong sân nhà kình cãi với bà H4 này, anh Lê Minh T2(sinh năm 1988 con ruột bà H2từng đánh Lgây thương tích) đi chơi về thấy L3 chửi mẹ mình nên đứng trên đường bê tông trước nhà to tiếng nói với L“Loại ông là loại mà mẹ của ông, ông còn đánh, xe của em ông mà ông còn cướp” dẫn đến giữa Lvới anh T3 ra kinh cãi. Anh T4 thức đánh nhau với L“Ông có ngon thì ra đây làm một chút”, bà H2sợ anh T5 Lxảy ra đánh nhau nên đến ngăn cản. Vừa lúc này, chị Nguyễn Thị H5(sinh năm 1976 - vợ Lhay tin L5 cãi với anh T6 xảy ra đánh nhau nên đi về nhà xem tình hình. Khi chị H6 mở công ngõ nhà ra, thì L6 đến bên hiên nhà lấy 01 đoạn tuýp sắt có đặc điểm (dài 55cm, đường kính 2,5cm) cầm chạy đến đứng sau lưng bà H2và đối diện với anh T7 khoảng 1m. Ltay phải cầm đoạn tuýp sắt đánh bổ liên tiếp 2 -3 cái về phía anh T8 trúng vào vùng trán trái của anh T9 thương tích. Do bị đánh, anh T10 bà H2ra, rồi lao vào ôm vật với L7 cả hai té ngã trên đường bê tông trong tư thế Lnằm đè lên người anh TThấy vậy, chị H1chạy đến can ngăn, giật lấy đoạn tuýp sắt trên tay L8 vứt đi còn bà H2gọi anh Trần Công T1năm 1997, ở B Đ, phường Đ đến can ngăn. Hậu quả anh T11 thương tích chảy máu vùng trán trái được anh T1đưa đến Trung tâm y tế thị xã A chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B, điều trị đến ngày 21/10/2023 xuất viện.

- Tại bán kết luận giám định số: 382/2023/KLTTCT-PYBB ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B giám định tổn thương cơ thể trên người sống của anh Lê Minh T12 sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương vùng trận trái đã khâu, điều trị. Hiện để lại sẹo trái.

  • - Vết thương vùng thái dương-định trái không tổn thương sọ, nội sọ trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ đã khâu, điệu trị. Hiện để lại sẹo thái dương-đỉnh trái, điện não đồ biến đổi nhẹ.

  • - Chấn thương gây xây xác vai trái đã điều trị. Hiện vai trái không có dấu vết và di chứng.

  • - Chấn thương gây xây xác khuỷu tay trái đã điều trị. Hiện để sẹo khuỷu tay trái; vận động khuỷu tay trái trong giới hạn bình thường

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019 TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Minh T13 thời điểm giám định là 09%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư".

- Vật chứng của vụ án:

+ 01 đoạn tuýp sắt dài 55cm, đường kính 2,5cm.

Vật chứng trên, hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.

- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Minh T14 cầu bị cáo Trương Văn L9 có trách nhiệm bồi thường chi phí cho việc cấp cứu, điều trị, phục hồi sức khỏe, tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật. Tổng số tiền bị hại Lê Minh T15 chi theo hóa đơn, chứng từ là 1.976.545 đồng. Bị cáo Trương Văn L10 bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại T15 nhận số tiền trên, chưa bãi bại về trách nhiệm dân sự

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSAN ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Trương Văn L11 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trương Văn L12 tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Trương Văn L13 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 590 của Bộ luật Dân sự và nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Trương Văn L14 thường các khoản cho Lê Minh T16 tổng số tiền là 18.099.845 đồng được trừ 5.000.000 đồng bồi thường trước còn lại phải bồi thường 13.099.845 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt dài 55cm, đường kính 2,5cm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng, tỏ ra ăn hăn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn L10 khai nhận toàn bộ hành vi phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Chiều ngày 19/01/2023, vì có mâu thuẫn trước bị cáo L15 bà Đặng Thị H3 kình cải với nhau. Lúc này, Lê Minh T17 ruột bà H3 đi về thấy nên đã to tiếng và thách thức với bị cáo LBị cáo Lbực tức lấy cây tuýp sắt đến đứng phía sau bà H3 và đối diện với T7 khoảng 01m dùng tay trái đánh từ trên xuống 02 – 03 cái về phía Ttrúng vào vùng trán trái Tgây thương tích. Anh T10 bà H2ra đến ôm vật với Llàm cả hai té ngã trên đường bê tông thì được mọi người can ngăn và đưa anh T18 cấp cứu, điều trị đến ngày 21/10/2023 xuất viện.

[3] xét về hành vi và hậu quả bị cáo đã gây ra, thấy rằng: Bị cáo Trương Văn 1 một công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi đã dùng đoạn tuýp sắt bằng kim loại là hung khí nguy hiểm làm công cụ cố ý tấn công vào anh Lê m T3là nguy hiểm. Hành vi gây nguy hiểm của bị cáo L16 đến hậu quả anh Lê Minh T16 tỷ lệ tổn thương cơ thể 09%, anh T19 đơn yêu cầu khởi tố tụ án hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Văn 11 phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn L17 phát từ những mâu thuẫn hai bên gia đình và mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại mà bị cáo không biết kiềm chế hành vi khi bị hại xúc phạm và thách thức đối với bị cáo. Bị cáo xâm phạm đến sức khỏe của bị hại một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần ấn định mức hình phạt tương xứng với hành vi và tính chất phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện.

[5] Tuy nhiên, khi xem xét ấn định một hình phạt đối với bị cáo cần xem xét cách tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trương Văn 12 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L10 tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã xúc phạm thách thức bị cáo; bị cáo có một người con còn nhỏ ở tuổi chưa thành niên là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 và 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự . Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo theo xác thực văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường các khoản chi phí hợp lý được tính cho bị hại Lê Minh T20 khoản như sau:

  • - Chi phí điều trị theo hóa đơn 1.976.545đ;

  • - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe và chi phí phục hồi sức khỏe là 2.000.000đ;

  • - Thu nhập thực tế bị mất của bị hại trong thời gian điều trị 03 ngày là: 300.000đ/ngày x 3 ngày = 900.000đ.

  • - Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị 03 ngày là: 250.000đ/ngày x 3 ngày = 750.000đ.

  • - Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bị hại là 05 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định: 05 tháng x 1.800.000đ/tháng = 9.000.000đ.

Tổng cộng số tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của anh Lê Minh T21 14.626.545₫

Buộc bị cáo Trương Văn L9 có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Minh T22; bị cáo Trương Văn L10 bồi thường cho anh T5.000.000đ nên bị cáo L18 phải bồi thường cho anh T23 tiền còn lại là: 9.626.545₫

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A thu giữ 01 đoạn tuýp sắt dài 55cm, đường kính 2,5cm là công cụ phạm tội của bị cáo L19 tịch thu tiêu hủy. Vật chứng đã được chuyển giao cho Chị cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/5/2024

[8] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  • [8.1] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Văn L9 chịu 200.000₫

  • [8.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Văn L9 chịu 481.327₫

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn L11 phạm tội “Cố ý gây thương tích"

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Văn L20 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15/5/2024.

    Giao bị cáo Trương Văn L11 cho Ủy ban nhân dân phường Đ1, thị xã A, tỉnh Bình Địnhgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp bị cáo Trương Văn L11 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Trương Văn L11 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trương Văn L11 phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Trương Văn L14 thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Lê Minh T20 khoản sau:

    • - Chi phí điều trị theo hóa đơn 1.976.545đ;

    • - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe và chi phí phục hồi sức khỏe là 2.000.000đ;

    • - Thu nhập thực tế bị mất của bị hại trong thời gian điều trị 03 ngày là: 300.000đ/ngày x 3 ngày = 900.000đ.

    • - Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị 03 ngày là: 250.000đ/ngày x 3 ngày = 750.000đ.

    • - Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bị hại là 05 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định: 05 tháng x 1.800.000đ/tháng = 9.000.000đ.

    Tổng cộng số tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của anh Lê Minh T21 14.626.545đ được trừ vào 5.000.000đ bị cáo Trương Văn L10 bồi thường cho anh Lê Minh T24 bị cáo Trương Văn L21 phải bồi thường cho anh Lê Minh T21: 9.626.545đ (chín triệu sáu trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm bốn mươi lăm đồng) khi bản án có hiệu lực thi hành.

  4. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đoạn tuýp sắt dài 55cm, đường kính 2,5cm. Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/5/2024

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Trương Văn L9 chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 481.327đ (bốn trăm tám mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

    • 7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    • 7.2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Công an TX. An Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã An Nhơn
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội "cố ý gây thương tích"

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Lộc phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger