|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Huyện K- Tỉnh Ninh Bình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/HS-ST Ngày: 07/06/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Trương Minh Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 24/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 09/05/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 21/05/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh năm 1973; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: xóm A, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Bố đẻ: Trần Văn H1 (đã chết năm 2009); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1933;
Vợ : Bị cáo có 02 vợ, vợ thứ nhất là Nguyễn Thị D, sinh năm 1975 (Đã ly hôn), vợ thứ 2 là Trần Thị H2, sinh năm 1975; Con: bị cáo có 05 con ( một con chung với chị D, hai con chung của với chị H2 và 02 con riêng của chị D), con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không. Lịch sử bản thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/HSST ngày 20/8/1997 của Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình và Bản án hình sự phúc thẩm số 2148/HSPT ngày 7/10/1997 của Toà án nhân dân tối cao xử phạt Trần Văn H 20 năm tù về tội “Giết người”; buộc bồi thường cho người bị hại số tiền 18.096.000 đồng; nộp án phí hình sự sơ thẩm là 50.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 904.800 đồng; nộp án phí phúc thẩm 50.000 đồng. Ngày 30/8/2010 Trần Văn H đã thi hành xong toàn bộ bản án, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện K ( có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phạm Văn M, sinh năm 1970, trú tại xóm A, xã H, huyện K( có mặt tại phiên tòa).
+ Anh Trần Văn Á, sinh năm 1981, trú tại xóm A, xã C, huyện K( có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Anh Hoàng Khắc T, Phạm Văn L, Trần Anh N1, Trần Văn H3, Trần Thành L1 ( Đại diện theo pháp luật của anh L1 là anh Trần Văn Á - bố đẻ). Tại phiên tòa vắng mặt anh Hoàng Khắc T và Trần Anh N1, những người còn lại có mặt tại phiên tòa .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2023 Trần Văn H đến nhà anh Trần Văn Á, ở xóm A, xã C, huyện K chơi. Tại đây H gặp các anh gồm: Phạm Văn M, Hoàng Khắc T, Phạm Văn L, Trần Anh N1, đang ngồi uống nước tại gian phòng khách. Quá trình ngồi uống nước, giữa anh M và Trần Văn H xảy ra cãi nhau, định đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn nhưng không thành.
Hai bên tiếp tục cãi chửi nhau, H lấy từ trong túi quần ra 01 vật có hình dạng giống khẩu súng ngắn, màu đen cầm ở tay phải. Thấy vậy anh M chửi và thách thức H bắn đồng thời lao đến để giằng lấy súng của H nhưng do bị trượt chân bị ngã ra nền nhà. H cầm vật giống súng trên tay phải đưa về phía trước bắn 01 phát gây ra tiếng nổ to trong phòng khách nhà anh Ánh. Mọi người đang ngồi trong nhà anh Á nghe tiếng nổ hoảng sợ, chạy hết ra ngoài sân, H cũng chạy ra ngoài đường.
Sau đó H đứng ở trước cổng nhà anh Á, cầm vật giống súng trên tay giơ về phía trước thực hiện động tác lên đạn và liên tục chửi, đe doạ bắn anh M. Thấy vậy anh M cầm 02 vỏ hộp keo dán gỗ để trong sân nhà anh Á ném về phía H nhưng không trúng. Tiếp đó anh M nhặt 01 đoạn gậy gỗ trong sân nhà anh Ánh cầm trên tay chạy đuổi theo, H bỏ chạy. Do đuổi theo không kịp nên anh M quay lại nhà anh Á và được anh N1 chở về nhà. Khoảng 01 phút sau, H tiếp tục cầm vật giống súng trên tay phải đi trên đường T, thuộc xóm A, xã C, huyện K, vừa đi H vừa chửi bới, đe doạ bắn anh M. Khi đến cổng nhà anh Ánh, do không tìm thấy anh M nên H đi về nhà.
Hậu quả: anh M bị 01 vết thương rách da ở mu bàn tay phải kích thước 02cm, sâu 0,1cm, không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại vị trí trên tường phía Tây phòng khách phát hiện 01 vết nứt vỡ kích thước (4,5 x 4,5 x 0,2)cm, điểm thấp nhất cách mặt bậc cầu thang thứ 7 là 65cm, điểm gần nhất cách tường phía Nam là 132cm. Trong vết nứt vỡ có 01 vết hình tròn đường kính là 1,1cm, trên vết có dính dị vật màu nâu, điểm thấp nhất cách bậc thang thứ 7 là 65,4cm; điểm gần nhất cách tường phía Nam là 133cm; dưới nền nhà có 06 mảnh kim loại màu nâu và vàng đồng rải rác trên diện tích kích thước (32,5 x 14)cm.
Vật chứng thu giữ tại hiện trường: 01 đoạn gậy gỗ công nghiệp màu nâu xám kích thước (51 x 3,4 x 7)cm; 02 vỏ hộp keo bằng kim loại màu cam kích thước (11,7 x 10)cm; 06 mảnh kim loại màu nâu và vàng đồng; 01 file video tên “video H4” trích xuất từ camera an ninh nhà anh Trần Văn Á được lưu trữ vào đĩa DVD-R. Thu giữ của Trần Văn H 01 khẩu súng bằng nhưạ màu đen, dạng súng đồ chơi nén lò xo; 01 khẩu súng bằng kim loại, dạng súng côn quay bắn đạn sinh diêm do H giao nộp. Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, phương tiện của Trần Văn H nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Sau khi xảy ra vụ án H đã rời khỏi địa phương. Đến ngày 17/11/2023, Trần Văn H đến Cơ quan điều tra để làm việc và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Ngày 20/11/2023 Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã và đại diện quần chúng nhân dân xóm A, xã C, huyện K có đơn đề nghị xử lý đối với Trần Văn H.
Ngày 28/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 183/QĐ-ĐCHS đối với 02 khẩu súng thu giữ của Trần Văn H và các mảnh vỡ kim loại thu giữ tại hiện trường. Tại Bản kết luận giám định số 925/KL-KTHS-SĐ ngày 07/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật có hình dạng khẩu súng ngắn gửi giám định là súng nén lò xo bắn đạn nhựa, thuộc đồ chơi nguy hiểm và không phải là vũ khí. Mẫu vậy có hình dạng khẩu súng kiểu côn quay gửi giám định là súng bắn gây nổ, thuộc đồ chơi nguy hiểm và không phải là vũ khí. Không đủ cơ sở để kết luận 06 mảnh kim loại gửi giám định có phải là đầu đạn hay không, của loại đạn nào và được bắn ra từ loại súng nào.” Tại công văn số 31/PC09 ngày 25/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N giải thích rõ một số nội dung trong kết luận giám định số 925/KL-KTHS-SĐ ngày 07/12/2023 như sau” Mẫu vật có hình dạng khẩu súng kiểu côn quay gửi giám địnhlàm bằng kim loại là đồ chơi nguy hiểm, khi bắn có gây ra tiêng nổ, không bắn ra đầu đạn và không gây sát thương; Mẫu vật có hình dạngkhẩu súng ngắn làm bằng nhựa, bên ngoài có quấn băng dính màu đen, là đồ chơi nguy hiểm, khi bắn không gây ra tiếng nổ và không sát thương”.
Tại bản kết luận giám định số 385/KL-KHHS-CH ngày 26/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Không đủ cơ sở xác định cơ chế hình thành dấu vết nứt vỡ kích thước (4,5 x 4,5 x 0,2) cm trên tường phía Tây gian phòng khách nhà anh Trần Văn Á. Không đủ cơ sở xác định 06 mảnh kim loại màu nâu và màu vàng đồng gửi giám định có gây ra được vết nứt vỡ với kích thước (4,5 x 4,5 x 0,2) cm trên tường phía Tây gian phòng khách nhà anh Trần Văn Á hay không.”.
Ngày 14/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 220/QĐ-ĐCSHS đối với Trung tâm pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ % sức khoẻ bị tổn hại của anh Phạm Văn M nhưng anh M có đơn xin từ chối việc giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 158/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh trong đoạn video gửi giám định.”
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn M yêu cầu Trần Văn H phải bồi thường thiệt về tinh thần và sức khoẻ theo quy định của pháp luật. Ngày 25/3/2024 chị Trần Thị H2 (là vợ H) đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện K để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh M.
Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Chuyển từ kho vật chứng Công an huyện K đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K các vật chứng gồm: 01 đoạn gậy gỗ; 02 vỏ hộp keo; 06 mảnh vỡ kim loại; 02 khẩu súng có đặc điểm nêu trên để giải quyết cùng vụ án.
Cáo trạng số 30/CT-VKS - KS ngày 23/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
+ Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 27 đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2023
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 và 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 236/2026/ UBTVQH14:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy gỗ; 02 vỏ hộp keo; 06 mảnh vỡ kim loại; 01 khẩu súng bằng nhưạ màu đen, dạng súng đồ chơi nén lò xo; 01 khẩu súng bằng kim loại, dạng súng côn quay bắn đạn sinh diêm.
+ Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với anh M số tiền 10.000.000đ; ghi nhận sự tự nguyện cho lại của anh M đối với bị cáo số tiền này; trả lại cho bị cáo số tiền 05 triệu bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả trước tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện K.
+ Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có ý kiến bào chữa, xin Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo ở mức 20 tháng tù đối với bị cáo để bị cáo được sớm trở về làm ăn nuôi 4 con còn nhỏ.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn M có quan điểm: Bị cáo đã nhận ra sai lầm, xin lỗi về hành vi đã gây ra cho anh, tự nguyện bồi thường 10 triệu đồng; anh nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo đối với mình nhưng cho lại bị cáo để nuôi con vì hoàn cảnh bị cáo khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo ở mức 20 tháng tù đối với bị cáo để bị cáo được sớm trở về làm ăn nuôi 4 con còn nhỏ.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Văn Á có quan điểm: bị cáo đã nhận ra sai lầm, xin lỗi về hành vi đã gây ra tại nhà anh, hành vi của bị cáo không gây thiệt hại về vật chất nên anh không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì đối với mình; đề nghị Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức 20 tháng tù đối với bị cáo để bị cáo được sớm trở về làm ăn nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về Tội danh của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo Trần Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án Tòa án đã tóm tắt. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh, bản kết luận giám định số 925/KL-KTHS-SĐ ngày 07/12/2023, công văn số 31/PC09 ngày 25/4/2024, bản kết luận giám định số 385/KL-KHHS-CH ngày 26/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh N và các vật chứng đã thu giữ tại hiện trường vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2023 tại nhà anh Trần Văn Á ở xóm A, xã C, huyện K; Trần Văn H đã có hành vi chửi bới, đe doạ anh Phạm Văn M tại nhà anh Á và khu vực đường C, xã C; sử dụng hung khí là vật có hình dạng giống súng bắn 01 phát gây ra tiếng nổ tại nhà anh Á; đuổi đánh anh Phạm Văn M tại nhà anh Á và khu vực đường C, xã C sự việc kéo dài đến khoảng 13 giờ 45 phút ngày 15/11/2023 gây mất trật tự trị an ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn tại khu vực dân cư. Hành vi của bị cáo Trần Văn H đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” thuộc trường hợp “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: …………......
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách………………………”
Viện Kiểm sát nhân dân huyện K căn cứ quy định của Bộ luật hình sự truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” thuộc trường hợp “dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[2]Về Hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất trật tự an ninh tại địa phương; Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội cho bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo mới có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và“ tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại” được quy định tại điểm b và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý trách nhiệm hình sự nhưng không lấy đó là bài học tu dưỡng trở thành công dân có ích mà phạm tội mới.
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện,nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích, mới có tác dụng giáo dục đấu tranh phòng ngừa chung.
Khi lượng hình căn cứ các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với anh Phạm Văn M: Ban đầu anh M yêu cầu giải quyết theo pháp luật đối với thiệt hại về sức khỏe của mình nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thiệt hại xảy ra cụ thể thế nào. Thực tế anh M bị 01 vết thương rách da ở mu bàn tay phải kích thước 02cm, sâu 0,1cm, không phải đi điều trị tại cơ sở y tế nào. Trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo và anh M chưa có thỏa thuận bồi thường; bị cáo đã nhờ người nhà tự nguyện nộp 5.000.000₫ tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện K, để
bồi thường tổn thất về sức khỏe cho anh M. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho anh M 5.000.000đ, tổng là 10 triệu đồng; anh M nhận sự tự nguyện bồi thường này của bị cáo đối với mình, nhưng cho lại bị cáo để nuôi con vì hoàn cảnh bị cáo khó khăn. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của các bên. Do đó số tiền 5.000.000đ, đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện K cần trả lại cho bị cáo.
Đối với anh Trần Văn Á quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều trình bày bị cáo đã nhận ra sai lầm, xin lỗi về hành vi đã gây ra tại nhà anh hành vi của bị cáo không gây thiệt hại không đáng kể về vật chất và tinh thần nên anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì Do đó Hội đồng xét xử không xét
[4] Về xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng gồm: 01 đoạn gậy gỗ; 02 vỏ hộp keo; 06 mảnh vỡ kim loại; 01 khẩu súng bằng nhưạ màu đen, dạng súng đồ chơi nén lò xo; 01 khẩu súng bằng kim loại, dạng súng côn quay bắn đạn sinh diêm do H giao nộp là vật không còn giá trị sử dụng và vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video hình ảnh trích xuất từ clip do ca me ra của nhà anh Ánh ghi lại được lưu trong hồ sơ vụ án nay tiếp tục quản lý theo hồ sơ.
[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 106, 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng”.
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 24 ( hai mươi bốn ) tháng tù, thời phạt tù tính từ ngày 28/11/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo số tiền 5.000.000₫ tự nguyện bồi thường trước được nộp tại biên lai số 0002358 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
4. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đoạn gậy gỗ; 02 vỏ hộp keo; 06 mảnh vỡ kim loại; 01 khẩu súng bằng nhưạ màu đen, dạng súng đồ chơi nén lò xo; 01 khẩu súng bằng kim loại, dạng súng côn quay bắn đạn sinh diêm.
- Tiếp tục quản lý theo hồ sơ đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video hình ảnh trích xuất từ clip do camera của nhà anh Ánh.
( Chi tiết vật chứng như trong biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 02/5/2024)
5. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thế Anh |
8
Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 29/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
