Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HS-ST

Ngày: 06/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Xuân Hường; Ông Nguyễn Văn Hữu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST, ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/HSST-QĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phan Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/5/2001, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan Văn V; Sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị L; Sinh năm: 1966; Anh chị em ruột: Có 3 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/02/2024, đến ngày 24/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/5/1980, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T - (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1951; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Dương Thị H1; Sinh năm 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/02/2024, đến ngày 24/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16/10/1985, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T1 - (Đã chết) và bà: Dương Thị H2; Sinh năm 1951; Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/02/2024, đến ngày 24/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
  4. Họ và tên: Nguyễn Văn T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/7/1988, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T3; Sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị T4; Sinh năm 1962; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/02/2024, đến ngày 24/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
  5. Họ và tên: Bùi Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/5/1987, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Đ1 - (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị V1; Sinh năm: 1961; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Thị H3; Sinh năm 1990 và 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 15/02/2024, đến ngày 24/02/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
  6. Họ và tên: Phan Văn C1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 04/10/1989, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan Xuân L1 - (Đã chết) và bà: Phạm Thị L2; Sinh năm: 1956; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 24/02/2024 cho đến nay, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn Đ, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980), Nguyễn Văn A (sinh năm 1985), Nguyễn Văn T2, Bùi Văn C, Phan Văn C1 là những người sinh sống trong cùng địa phương, quen biết nhau từ trước. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, sau khi uống rượu tại nhà Nguyễn Văn T2 ở thôn N, xã T, huyện T thì T2, Phan Văn Đ và Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) đi đến nhà anh Phan Văn C1 để chúc Tết. Sau đó, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985), Phan Văn Đ, Phan Văn C1 cùng ngồi uống rượu, nói chuyện tại phòng khách nhà C1. Lúc này, Phan Văn Đ nói với những người có mặt “Anh em làm hồi Ba bích đầu năm mới cho vui hè” (ý của Đ là rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh bài “T5 lên miền N”, sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng). Nghe vậy, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) đồng ý, còn C1 không nói gì, nhưng cả bốn người đều đi vào phòng bếp gần với vị trí các đối tượng đang ngồi. Khi vào phòng bếp, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) thấy một chiếc chiếu tre, màu nâu có sẵn tại phòng bếp nên lấy và trải ra giữa nền nhà, đồng thời A hỏi Phan Văn C1 “Có bộ bài nào không”, thì C1 nói “Có bộ bài cũ”, rồi C1 đi lại lấy trên nóc tủ lạnh một bộ bài T6 lơ khơ đã có sẵn từ trước đó, ném xuống chiếu. Tuy nhiên, khi ngồi vào chiếu bạc, Phan Văn C1 không chơi nên Nguyễn Văn A (sinh năm 1985), Phan Văn Đ, Nguyễn Văn T2 cùng thống nhất với nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Liêng”, “Đặt tẩy” mỗi ván là 10.000 đồng, “Tố” không quá 300.000 đồng. Khi Nguyễn Văn A (sinh năm 1985), Phan Văn Đ, Nguyễn Văn T2 đánh bạc được một lúc thì Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) đi bộ đến và tham gia đánh bạc cùng 3 người trên. Một lúc sau, có thêm Bùi Văn C đi đến tham gia đánh bạc cùng với 4 đối tượng trên. Quá trình các đối tượng đánh bạc, anh Phan Văn C1 có đứng xem và đi lại trong nhà, biết việc các đối tượng đánh bạc, đồng ý và không có hành động ngăn cản gì. Trong lúc đang đánh bạc, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) thua hết tiền mang theo, nên đã hỏi Phan Văn C1 “C1 ơi cho mượn hai triệu (ý của A là mượn C1 số tiền 2.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc), thì C1 đồng ý và vào phòng ngủ lấy số tiền 2.000.000 đồng đưa cho A tại phòng bếp, nơi các đối tượng đang đánh bạc. Sau đó, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) cùng các đối tượng tiếp tục đánh bạc bằng hình thức như trên, còn Phan Văn C1 xem một lúc nữa thì đi sang nhà hàng xóm chơi.

Cách thức đánh bài “Liêng” và tính thắng thua như sau: Các đối tượng dùng bộ bài Tú lơ khơ 52 quân chia mỗi người 3 quân bài, số bài còn thừa thì để ra giữa chiếu bạc không dùng đến. Mỗi người đánh phải để vào chiếu bạc 10.000 đồng (gọi là “Đặt tẩy”). Sau khi chia bài xong thì những người đánh bạc cầm bài lên xem, nếu ai không muốn đánh ván đó thì bỏ bài vào số bài không chia. Người có quyền “Đặt cược” đầu tiên là người chia bài, số tiền “Đặt cược” là 20.000 đồng, nếu người chia bài không đánh thì người ngồi kế tiếp theo chiều ngược kim đồng hồ có quyền “Đặt cược” tiền và những người tham gia đánh khác có quyền đánh thêm tiền (gọi là “Tố”), nhưng không quá 300.000 đồng. Khi mọi người đã “Tố” xong thì những người tham gia đánh bạc tiến hành mở bài để xác định thắng thua theo quy ước: Nếu ai có 3 quân bài cùng một số (Ví dụ: 3 quân bài 5) thì gọi là “Sáp”, “Sáp” lớn thắng “Sáp” nhỏ, “Sáp” 3 quân bài A là lớn nhất. Lớn sau “Sáp” là “Liêng” - nghĩa là người đánh bạc có 3 quân bài kế tiếp nhau nhưng không cần phải cùng màu, cùng chất (Ví dụ: 1 quân bài 6 rô, 1 quân bài 7 bích, 1 quân bài 8 cơ thì gọi là “Liêng”); “Liêng” lớn thắng “Liêng” nhỏ, trong các “Liêng” thì “Liêng” Q, K và A r là lớn nhất; nếu hai “Liêng” có giá trị bằng nhau thì xét chất bài mạnh hơn để xác định “Liêng” lớn hơn theo nguyên tắc chất rô > chất cơ > chất chuồn > chất bích. Lớn sau “Liêng” là “Ảnh” - nghĩa là người đánh bạc có 3 quân bài có hình người không kế tiếp nhau (Ví dụ: 2 quân bài Q, 1 quân bài K), “Ảnh” lớn hơn khi có quân bài có chất mạnh hơn. Nếu không ai có “Sáp”, “Liêng” và “Ảnh” thì xác định thắng thua bằng cách tính điểm, ai nhiều điểm hơn thì người đó thắng, 9 điểm là lớn nhất; những người có cùng điểm số thì ai có quân bài có chất mạnh hơn sẽ thắng; các quân bài 10, J, Q, K tính 0 điểm, A tính 1 điểm, các quân bài còn lại tính điểm theo các con số in trên quân bài đó; khi tổng số điểm lớn hơn 10 hoặc lớn hơn 20 thì chỉ lấy điểm là số hàng đơn vị. Trong bốn cách tính trên thì lớn nhất là “Sáp”, đến “Liêng”, đến “Ảnh” và sau cùng là tính điểm. Ai có bài lớn hơn thì người đó thắng và được lấy toàn bộ số tiền mà những người đánh đã “Đặt tẩy”, “Đặt cược”, “Tố” trong ván đó và kết thúc một ván bạc.

Đến khoảng 15 giờ 45 phút ngày 15/02/2024, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an xã T, huyện T phát hiện, bắt quả tang. Tại hiện trường, lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền 6.740.000 đồng (mà các đối tượng khai nhận đều sử dụng để đánh bạc, gồm: Phan Văn Đ 180.000 đồng, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) 2.410.000 đồng, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) 700.000 đồng, Nguyễn Văn T2 1.930.000 đồng, Bùi Văn C 1.520.000 đồng); 01 bộ bài Tú lơ khơ gồm 52 quân bài màu xanh; 01 chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200)cm, đã qua sử dụng. Công an xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các tang vật, đưa các đối tượng về trụ sở để làm việc. Ngày 16/02/2024, Công an xã T đã bàn giao các đối tượng và tang vật cho CQCSĐT Công an huyện T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn Đ, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980), Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) và Bùi Văn C đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, các bị cáo đều khai nhận: Trong quá trình đánh bạc nói trên, Phan Văn C1 là người cho các bị cáo sử dụng nhà mình, lấy bộ bài T6 lơ khơ đưa cho các bị cáo đánh bạc và cho Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) mượn số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc.

Quá trình điều tra đã chứng minh được số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Phan Văn Đ 1.150.000 đồng, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) 2.260.000 đồng, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) 1.350.000 đồng, Nguyễn Văn T2 1.100.000 đồng, Bùi Văn C 870.000 đồng, tổng bằng 6.740.000 đồng. Tại thời điểm bị bắt quả tang, Phan Văn Đ đang thua bạc (bị thu giữ tại chiếu bạc 180.000 đồng); Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) đang thắng bạc (bị thu giữ tại chiếu bạc 2.410.000 đồng); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) đang thua bạc (bị thu giữ tại chiếu bạc 700.000 đồng); Nguyễn Văn T2 đang thắng bạc (bị thu giữ tại chiếu bạc 1.930.000 đồng), Bùi Văn C đang thắng bạc (bị thu giữ tại chiếu bạc 1.520.000 đồng).

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 6.740.000 đồng.
  • - 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quân, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200)cm, đã qua sử dụng.

Các vật chứng trên hiện đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà quản lý theo quy định.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 29/CT-VKS-TH, ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2; Bùi Văn CPhan Văn C1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2; Bùi Văn CPhan Văn C1 về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Phan Văn Đ, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980), Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) từ 06 (S) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của các bị cáo từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao các bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình quản lý trong thời gian thử thách; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn C1 từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với các bị cáo Bùi Văn C, Phan Văn C1. Thời hạn Cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, giao các bị cáo cho xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình quản lý trong thời gian chấp hành hình phạt. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, xử phạt bổ sung các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2 mỗi bị cáo từ 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) đến 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Bùi Văn C, Phan Văn C1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung quỹ nhà nước: Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 6.740.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quân, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200) cm, đã qua sử dụng; Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận thống nhất như nội dung Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo rất ăn năn, hối cải; các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương. Các bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ tự rèn luyện bản thân, không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về Hành vi, quyết định của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 15/02/2024, tại nhà Phan Văn C1 ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Công an xã T, huyện T phát hiện, bắt quả tang Phan Văn Đ, Nguyễn Văn A (sinh năm 1980), Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) và Bùi Văn C đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 6.740.000 đồng; 01 bộ bài Tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quân và 01 chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200)cm, đã qua sử dụng. Bị cáo Phan Văn C1 tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã giúp sức bằng việc cho sử dụng địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, cho Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) mượn số tiền 2.000.000 đồng để các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc.

Hành vi của các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2; Bùi Văn CPhan Văn C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Đánh giá vai trò các bị cáo thì bị cáo Phan Văn Đ là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1980), Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) và Bùi Văn C là những người tham gia đánh bạc tích cực, bị cáo Phan Văn C1 là người giúp sức trong việc cho sử dụng địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, cho mượn tiền để các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc.

[3]. Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại điều 52 BLHS.

[3.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) có bố là ông Nguyễn Văn T1 và mẹ là bà Dương Thị H2 được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương các hạng; bị cáo Phan Văn C1 có bố là ông Phan Xuân L1 được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương các hạng, bản thân Phan Văn C1 hiện đang hưởng trợ cấp xã hội do ảnh hưởng chất độc da cam nên các bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) và Phan Văn C1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4]. Về tính chất hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo sau khi phạm tội đã nhận thức được lỗi lầm của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) có bố là ông Nguyễn Văn T1 và mẹ là bà Dương Thị H2 được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương các hạng; bị cáo Phan Văn C1 có bố là ông Phan Xuân L1 được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương các hạng, bản thân Phan Văn C1 hiện đang hưởng trợ cấp xã hội do ảnh hưởng chất độc da cam, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm Đánh bạc là loại tội phạm có mục đích vụ lợi, do đó HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 321; Điều 35 BLHS xử phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với các bị cáo không bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính. Riêng các bị cáo Bùi Văn CPhan Văn C1 có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo Bùi Văn C đang nuôi 03 con nhỏ; bị cáo Phan Văn C1 đang hưởng trợ cấp xã hội do ảnh hưởng chất độc da cam, tham gia đánh bạc với vai trò giúp sức, do đó miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Bùi Văn CPhan Văn C1.

[6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:

  • - Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 6.740.000 đồng. HĐXX xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
  • - 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quân, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200)cm, đã qua sử dụng. HĐXX xét thấy đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, do đó áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2; Bùi Văn CPhan Văn C1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:

    Áp khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    • - Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 08 (T7) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/6/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/6/2024).
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (B) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/6/2024).

    Áp khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/6/2024).

    Giao các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) và Nguyễn Văn T2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Văn C1 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn Cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao các bị cáo Bùi Văn CPhan Văn C1 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 100 và đều 68 Luật thi hành án hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho các bị cáo Bùi Văn CPhan Văn C1.

  3. Về hình phạt bổ sung: Áp khoản 3 Điều 321; Điều 35 Bộ luật Hình sự:
    • - Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1980) 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (sinh năm 1985) 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng);
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: Tiền Ngân hàng N đang lưu hành 6.740.000 đồng.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài Tú lơ khơ màu xanh, loại 52 quân, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu tre, màu nâu, kích thước (160 x 200) cm, đã qua sử dụng.

    (Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 (BL 365) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc các bị cáo Phan Văn Đ; Nguyễn Văn A (sinh năm 1980); Nguyễn Văn A (sinh năm 1985); Nguyễn Văn T2; Bùi Văn CPhan Văn C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Hà;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: HSVA; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH về tội đánh bạc

  • Số bản án: 29/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Van Đ và các đồng phạm đánh bạc bị bắt quả tang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger