Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/8/2024

Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Hoàng Văn Định
  2. Bà Lê Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm Sát Viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 212/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lưu Quỳnh N, sinh năm 1995.
  2. Địa chỉ: 1 đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Dương Vũ Quốc A, sinh năm 1992.
  4. Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 14/5/2024 và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Lưu Quỳnh N trình bày:

Bà và ông Dương Vũ Quốc A tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 08/11/2016.

Quá trình chung sống thời gian đầu đã phát sinh mâu thuẫn thường xuyên gây gổ, cãi vã do hai bên tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông Quốc A thường xuyên cờ bạc, nợ nần, ăn nhậu không chăm lo quan tâm đến gia đình. Dù gia đình hai bên vẫn luôn khuyên bảo và hàn gắn vì các con nhỏ nhưng đến nay ông Quốc A vẫn không thay đổi. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cả hai đã cố gắng nhưng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà và ông Quốc A đã không còn sống chung với nhau. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Dương Vũ Quốc A.

Về con chung: bà và ông Quốc A có 02 con chung tên Dương Chí Lâm sinh ngày 19/11/2016 và Dương Bảo C sinh ngày 18/8/2020. Sau khi ly thân thì bé L ở với ông Quốc A, bé C ở chung với bà N. Bà yêu cầu để bà tiếp tục được nuôi dưỡng bé C và ông Quốc Anh n bé L. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Dương Vũ Quốc A thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Quốc A không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn – bà Lưu Quỳnh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Dương Vũ Quốc A vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự, thẩm phán, thư ký và hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn - bà Lưu Quỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Dương Vũ Quốc A có địa chỉ tại số A T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là vụ án “tranh chấp về ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 08/11/2016 của Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh và lời trình bày của đương sự nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lưu Quỳnh N và ông Dương Vũ Quốc A là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của bà N và việc ông Quốc A đã được triệu tập tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án nhưng ông Quốc A không có mặt, thể hiện bà Lưu Quỳnh N và ông Dương Vũ Quốc A đã có mâu thuẫn trầm trọng và các bên không có ý chí muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Xét thấy tình cảm giữa ông Quốc A và bà N đã không còn, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lưu Quỳnh N đối với ông Dương Vũ Quốc A.

[3] Về con chung:

Căn cứ các giấy khai sinh số 197 ngày 28/11/2016 mang tên Dương Chí L1 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp và giấy khai sinh số 124 ngày 24/8/2020 mang tên Dương Bảo C do Ủy ban nhân dân Phường E, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp cùng lời trình bày của đương sự thì ông Dương Vũ Quốc A và bà Lưu Quỳnh N có 02 con chung tên Dương Chí Lâm sinh ngày 19/11/2016 và Dương Bảo C sinh ngày 18/8/2020.

Sau khi ông Quốc A và bà N ly thân thì trẻ L1 sống với ông Quốc A tại địa chỉ 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, trẻ C sống với bà N tại 1 Đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N yêu cầu để bà tiếp tục được nuôi trẻ C và ông Quốc A tiếp tục nuôi trẻ L1. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Xét các điều kiện về vật chất cũng như tinh thần thì việc để ông Quốc A tiếp tục nuôi dưỡng trẻ L1 và bà N tiếp tục nuôi dưỡng trẻ C là phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của các bên đương sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N.

[4] Về tài sản chung: Bà Như không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Theo quy định tại điểm a, khoản 5 và điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án thì bà Lưu Quỳnh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 4, Điều 147; Điều 228; khoản 1, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 57; Điều 69; Điều 71; Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Quỳnh N.
    • - Về hôn nhân: Bà Lưu Quỳnh N được ly hôn với ông Dương Vũ Quốc A.
    • - Về con chung: Giao trẻ Dương Chí Lâm sinh ngày 19/11/2016 cho ông Dương Vũ Quốc A trực tiếp nuôi dưỡng và giao trẻ Dương Bảo C sinh ngày 18/8/2020 cho bà Lưu Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Ông Dương Vũ Quốc A và bà Lưu Quỳnh N được quyền thăm nom con và phải có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Không ai có quyền cản trở ông Quốc A và bà N thực hiện quyền này.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có quyền quyết định thay đổi người trực tiếp giữ nuôi hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

    - Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí:

    - Bà Lưu Quỳnh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0021177 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 3. Bà Lưu Quỳnh N đã nộp đủ án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Bà Lưu Quỳnh N và ông Dương Vũ Quốc A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 3;
  • - Chi cục THA Dân sự Quận 3;
  • - Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger