Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 18/9/2024

Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hà

2. Bà Đặng Thị Hoàng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Danh Thị Mỹ D, sinh năm: 1985.

Thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Tổ 6, ấp D (nay là ấp D), xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Phước B, sinh năm: 1985.

Thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Danh Thị Mỹ D trình bày:

Do mai mối nên năm 2008 bà và ông Trần Phước B tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 1/2008, ngày 04 tháng 7 năm 2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 13 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân

mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông B có người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm gia đình. Từ đầu năm 2022 đến nay, vợ chồng sống ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Danh Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ giải quyết cho bà được ly hôn với Trần Phước B.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 09/12/2009 và cháu Trần Ngọc Vân N, sinh ngày 06/3/2021. Khi ly hôn, bà D yêu cầu nuôi dưỡng 02 cháu K, N. Bà D yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.000.000 đồng đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Bà D trình bày không có.

- Về nợ chung: Bà D trình bày không có.

Đối với bị đơn ông Trần Phước B đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng ông B không có ý kiến, đồng thời vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Danh Thị Mỹ D có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Danh Thị Mỹ D có đơn xin ly hôn với ông Trần Phước B, sinh năm: 1985, hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quan hệ tranh chấp này là tranh chấp ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự:

Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:

Danh Thị Mỹ D tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn.

Ông Trần Phước B tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.

Ông B đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên vắng mặt không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm; bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy chứng nhận kết hôn số 102, quyển số 1/2008, ngày 04/7/2008). Như vậy hôn nhân giữa bà D và ông B được pháp luật công nhận. Xét thấy: Khi đã là vợ chồng thì cả hai phải cùng có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và chung lo cuộc sống nuôi dạy con cái; nhưng ông B không quan tâm đến vợ con, không thể hiện trách nhiệm làm chồng, làm cha bỏ mặt bà D một mình phải nuôi con. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập ông B để tham gia hòa giải nhưng ông B đều vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ bỏ mặc và không có thiện chí hay biện pháp gì nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng tỏ rằng mâu thuẫn chung vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về quan hệ con chung: Bà D và ông B có 02 con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 09/12/2009 và cháu Trần Ngọc Vân N, sinh ngày 06/3/2021.

Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của nguyên đơn bà Danh Thị Mỹ D, lời trình bày của cháu Trần Đăng K thể hiện cháu K có nguyện vọng sống với bà D. Bà D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung nên yêu cầu được nuôi 02 con chung của bà D là có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu KN cho bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà D yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.000.000 đồng đồng/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Xét thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con cái là nghĩa vụ chung của cả hai vợ chồng; yêu cầu của bà D là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà D trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Danh Thị Mỹ D là có căn cứ, lời đề nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận.

[4] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Do bà Danh Thị Mỹ D là người nộp đơn xin ly hôn nên bà phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Trần Phước B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 71, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Danh Thị Mỹ D được ly hôn với ông Trần Phước B.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày 09/12/2009 và cháu Trần Ngọc Vân N, sinh ngày 06/3/2021 cho bà Danh Thị Mỹ D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi.

Ông Trần Phước B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Phước B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Trần Đăng K, Trần Ngọc Vân N, mỗi cháu mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng vào ngày 20 dương

lịch hàng tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi phát sinh điều kiện chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.

Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp ông B chậm thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con thì ông B còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về nợ chung và tài sản chung: Ghi nhận lời khai của bà Danh Thị Mỹ D trình bày không có tài sản chung và nợ chung.

5. Về án phí:

Danh Thị Mỹ D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0034712 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ. Bà Danh Thị Mỹ D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Ông Trần Phước B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ.

6. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Cần Giờ;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giờ;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Danh Thị Mỹ Diễm - Trần Phước Bình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger