Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 29/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

V/v Ly hôn và nuôi con chung.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Cung
  2. Ông Lê Minh Chiểu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký TAND huyện Yên Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án thụ lý số 236/2023/TLST - HNGĐ ngày 21/11/2023 về việc Ly hôn và nuôi con chung. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/8/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 59/QĐS-HNGĐ ngày 27/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Bị đơn: Anh Trịnh Ngọc N, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Y, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/11/2023 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Ngọc N kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện, có thời gian tìm hiểu 02 năm. Đăng ký kết hôn ngày 20/12/2002 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được 18 năm, đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mỗi khi bàn bạc công việc trong gia đình vợ chồng không đi đến thống nhất, nên dẫn đến xảy ra cải vã lẫn nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng cũng không thể hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ khi sống ly thân hai bên không quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Trịnh Thị N1, sinh ngày 23/9/2003 và cháu Trịnh Quốc C, sinh ngày 19/01/2008. Hiện nay cháu N1 đã trưởng thành và xây dựng gia đình riêng. Cháu Trịnh Quốc C hiện nay đang ở với anh N. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị giao cháu C cho anh N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị sẽ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng 2.000.000đồng tính từ tháng 8/2024 cho tới khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Vợ chồng không có công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh N vắng mặt tại nơi cư trú, căn cứ địa chỉ nguyên đơn cung cấp, ngày 14 tháng 12 năm 2023 TAND huyện Yên Định ban hành Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ cho TAND huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập cho anh N, nhưng anh N không đến Tòa án làm việc nên không có bản tự khai.

Anh Trịnh Ngọc N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành các biện pháp xác minh thu thập chứng cứ.

Tại biên bản xác minh Bà Trịnh Thị Ư là mẹ đẻ anh N trình bầy: Anh Trịnh Ngọc N là con đẻ, chị Nguyễn Thị H là con dâu của bà. Chị H và anh N kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện. Đăng ký kết hôn tại UBND xã Y ngày 20/12/2002. Được một thời gian anh N và chị H cùng nhau vào trong Miền Nam làm ăn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng sống trong Miền Nam như thế nào bà không biết. Bà chỉ biết vợ chồng mâu thuẫn chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2021 cho tới nay. Anh N đi làm ăn xa, các dịp nghĩ lễ, tết có về nhà xong lại đi. Hiện nay chị H làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn anh N, tuỳ hai con quyết định. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị N1, sinh ngày 23/9/2003 và cháu Trịnh Quốc C, sinh ngày 19/01/2008. Hiện nay, cháu N1 đã trưởng thành và lập gia đình. Cháu Trịnh Quốc C hiện nay đang ở với anh N.

Về thủ tục tố tụng: Giấy tờ thủ tục tố tụng của Tòa án gửi về, anh N đã nhận được, anh biết hiện nay Toà án đang giải quyết vụ án xin ly hôn giữa anh và chị H, do anh bận công việc nên không có thời gian tới Toà án giải quyết được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt. Bị đơn triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của BLTTDS. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án để làm việc dẫn đến vụ án kéo dài. Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227 BLTTDS. Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị được ly hôn anh Trịnh Ngọc N. Về con chung: Giao cháu Trịnh Quốc C cho anh N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng, kể từ tháng 08/2024. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn của chị H và anh N là đúng quy định về thẩm quyền xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa hai lần nhưng không đến để tham gia tố tụng tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh N là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

2.1 Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng thống nhất được với nhau trong bàn bạc công việc trong gia đình, mỗi người một ý, dẫn đến trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Đó là nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Hai bên sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai quan tâm gì đến ai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh N sống ly thân đã hơn 04 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh N mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp.

2.2. Về con chung:

Chị H và anh N có 02 con chung là Trịnh Thị N1, sinh ngày 23/9/2003 và Trịnh Quốc C, sinh ngày 19/01/2008. Hiện cháu N1 đã trưởng thành, còn cháu C đang ở với anh N. HĐXX xét thấy nguyện vọng của chị H là giao cháu C cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu C cũng có nguyện vọng được ở với bố và cuộc sống của cháu cũng ổn định. Vì vậy, giao con cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận chị H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/1 tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

2.3. Về tài sản và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Chị H khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và chị là người cấp dưỡng nuôi con, nên chị phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật,

Từ những nhận định nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trịnh Ngọc N.

Về con chung: Chị H và anh N có 02 con chung. Cháu Trịnh Thị N1 sinh ngày 23/9/2003 đã thành niên. Giao cháu Trịnh Quốc C sinh ngày 19/01/2008 cho anh N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai thu số AA/2022/0001595 ngày 21/11/2023. Chị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị H trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án. Đối với anh N vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
P

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - UBND xã Yên Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2024/HNGĐ - ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 29/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger