|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 29/2024/HNGĐ-PT.
Ngày: 12/8/2024
V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung
của vợ chồng sau khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: 1. Bà Hoàng Thị Thu Hiền
2. Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 12/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 23/2024/TLPT-HNGĐ ngày 30/5/2024 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn” do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2024/QĐ-PT ngày 24/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐ-PT ngày 08/7/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2024/QĐ-PT ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Tàng Văn S, sinh năm 1979 (Có mặt).
Nơi thường trú: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã H, huyện Đ, TP Hà Nội
* Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1982 (Có mặt).
Nơi thường trú: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đào Thị P - Công ty L3 - Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Tàng Văn T, sinh năm 2000. (Vắng mặt)
- Chị Tàng Thị Mỹ X, sinh năm 2002. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Bài Xanh, xã Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang - Chị Tàng Thị D, sinh năm 2006 (Vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà chu Thị L sinh năm 1959 (Có mặt).
- Ông Trần Văn H1 sinh năm 1957 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Trong vụ án còn 1 số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
* Người kháng cáo: Bị đơn chị Trần Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên toà nguyên đơn anh Tàng Văn S trình bày:
Anh và chị Trần Thị H đã kết hôn với nhau vào năm 1999 được Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, con chung bằng Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 234/2022/QĐST-HNGĐ năm 2022, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung. Do không tự thỏa thuận phân chia tài sản chung nên anh làm đơn chia tài sản chung của anh và chị H gồm:
- + Diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy: CH02231, Quyết định cấp 187/QĐ-UBND ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 1145m². (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số 15 là 913,5m². Mục đích: Đất trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trên đất có cây bạch đàn, cây vải đã định giá.
- + Diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy: CH02526, cấp ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 209m², (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 14 là 266,8m²), mục đích: Đất trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có cây mít, cây xoài, cây cóc, cây dừa, cây vải, cây ổi đã được định giá.
- + Diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy: CH00743, cấp ngày 23/8/2016, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 2582,7m², (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 9 là 2616,2m²), mục đích: Trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất cây vải, cây khế, nhà cấp 4 đã được định giá.
- + Diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy: CH02232, cấp ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 731,4m² (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 14 là 629 m²), mục đích: Trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có nhà cấp 4, bán mái, mái che đã được định giá. Anh đề nghị Tòa án phân chia đôi tài sản trên cho anh và chị H theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai, những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa bị đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị xác nhận điều kiện kết hôn và ly hôn như anh S trình bày là đúng. Chị xác định anh chị có 04 thửa đất như anh S trình bầy và đề nghị chia tài sản cụ thể:
Chia cho chị diện tích 209m²; theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 14 là 266,8m²); Diện tích 731,4m² (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 14 là 629 m²).
Chia cho anh S thửa đất diện tích 1145m², không yêu cầu chia chênh lệch tài sản cho bên nào.
Đối với diện tích đất và tài sản trên đất diện tích 2582,7m², (theo kết quả đo đạc thực tế là 2616,2 m²) đất trồng cây lâu năm chị có nguyện vọng để cho các con.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Tàng Văn T, Tàng Thị Mỹ X, Tàng Thị D đều trình bày: Các anh chị đều là con của anh Tàng Văn S, chị Trần Thị H, các anh chị đã nhận được thông báo thụ lý vụ án việc bố mẹ anh chị làm thủ tục Chia tài sản chung sau ly hôn. Các anh chị không có ý kiến và không có yêu cầu gì, chỉ đề nghị Tòa án chia cho mẹ tài sản nhiều hơn.
* Đại diện UBND huyện L do bà Phạm Thị H2 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Anh Tàng Văn S và chị Trần Thị H được cấp GCNQSD đất đứng tên chung cụ thể:
- - Diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH02526 cấp ngày 19/9/2017. Diện tích theo GCNQSD đất 209m². Diện tích theo kết quả đo đạc tại tờ bản đồ số 14, thửa đất số 248, diện tích 266,8 m². Mục đích sử dụng: Trồng lúa nước.
- - Diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH02332 Quyết định cấp số: 1187/QĐ-UB cấp ngày 19/9/2017 mang tên hộ ông Tàng Văn S và vợ Trần Thị H. Diện tích theo GCNQSD đất: 731,4 m². Diện tích theo kết quả đo đạc tại tờ bản đồ số 14, thửa đất số 293, diện tích 629 m². Mục đích sử dụng: Trồng cây lâu năm.
- - Diện tích được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH02331, Quyết định cấp số: 1187/QĐ-UB cấp ngày 19/9/2017 mang tên hộ ông Tàng Văn S và vợ Trần Thị H. Diện tích theo GCNQSD đất: 1445m². Diện tích theo kết quả đo đạc tại tờ bản đồ số 15, thửa đất số 185, diện tích 913,5m². Mục đích sử dụng: Trồng lúa nước.
- - Diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH00743, Quyết định cấp số: 748/QĐ-UB cấp ngày 23/8/2016 mang tên hộ ông Tàng Văn S và vợ Trần Thị H. Diện tích theo GCNQSD đất: 2582,7m². Diện tích theo kết quả đo đạc tại tờ bản đồ số 9, thửa đất số 56, diện tích 2616,2 m². Mục đích sử dụng: Trồng cây lâu năm.
Ngoài ra chị Trần Thị H được cấp 01 GCNQSĐ đất đứng tên cá nhân chị theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH00935 Quyết định cấp số: 994/QĐ-UB cấp ngày 31/10/2016 mang tên chị Trần Thị H. Diện tích theo GCNQSD đất: 4.526,9m². Diện tích theo kết quả đo đạc tại tờ bản đồ số 9, thửa đất số 57, diện tích 4536,6m². Mục đích sử dụng: Trồng cây lâu năm.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị H, anh Tàng Văn S cũng như cấp cho cá nhân chị Trần Thị H là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chênh lệch so với diện tích thực tế đo đạc có nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân như các gia đình tự hoán đổi cho nhau, mua bán hoặc trước đây đo vẽ bằng phương pháp thủ công nay bằng máy móc nên độ chính xác cao hơn. Do công việc bận nên chị xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử của Toà án. Đề nghị Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
* Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 38/2023/HNGĐ-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tàng Văn S.
- - Giao cho anh Tàng Văn S được sở hữu và sử dụng diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất CH02231, Quyết định cấp 187/QĐ-UBND ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 1145m², (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 185, tờ bản đồ số: 15 = 913,5m² x 150.000 đồng/01m² = 137.025.000 đồng). Mục đích: Đất trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 150 cây bạch đàn, 01 cây vải có đường kính tán 4-5m. (có sơ đồ đất kèm theo).
- - Giao cho anh Tàng Văn S được sở hữu và sử dụng diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất CH00743, cấp ngày 23/8/2016, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 2582,7m², (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 56, tờ bản đồ số 9 = 2616,2m² x 50.000 đồng/01m² = 130.810.000đồng), Mục đích: Trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 50 cây vải, 01 cây khế, 01 nhà bếp, 01 nhà cấp 4 đều xây dựng năm 1997, 01 giếng đào xây năm 1997 đã hết giá trị sử dụng. (có sơ đồ đất kèm theo).
Tổng giá trị tài sản anh S được hưởng: 471.139.000 đồng.
- - Giao cho chị Trần Thị H được sở hữu và sử dụng diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất CH02526, cấp ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 209m², (Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 248, tờ bản đồ số 14 = 266,8m² x 190.000 đồng/01m² = 50.692.000đồng, mục đích: Đất trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 01 cây mít, 01 cây xoài. 01 cây cóc, 01 cây dừa, 12 cây bưởi, 03 cây vải, 02 cây ổi. (có sơ đồ đất kèm theo).
- - Giao cho chị Trần Thị H được sở hữu và sử dụng diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất CH02232, cấp ngày 19/9/2017, cấp cho Tàng Văn S và vợ Trần Thị H, diện tích 731,4m², Diện tích theo kết quả đo đạc thực tế tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 14 = 629m² x1.000.000 đồng/01m² = 629.000.000đồng), mục đích: Trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 01 nhà cấp 4; 01 bán mái tôn khung thép có tường bao quanh, 01 mái che lợp Broo xi măng khung thép, 01 mái che Bro xi măng khung gỗ đã hết giá trị sử dụng. (có sơ đồ đất kèm theo).
Tổng giá trị tài sản chị H được hưởng: 726.029.000 đồng.
Chị Trần Thị H phải trích trả cho anh Tàng Văn S số tiền 127.445.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản anh S được thực hưởng: 598.584.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chị H được thực hưởng: 598.584.000 đồng.
* Đình chỉ không xem xét giải quyết đối với yêu cầu chia diện tích đất được cấp GCNQSD đất có số vào sổ cấp GCNQSD đất CH00935, cấp ngày 31/10/2016, cấp cho Trần Thị H, diện tích 4.526,9m² (Đo đạc thực tế:4536,6m², mục đích: Trồng cây lâu năm, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có cây ăn quả và yêu cầu chia khoản tiền 230.000.000 đồng bán đất cho chị Tàng Thị H3; Khoản tiền chung 50.000.000 đồng do bà Hoàng Thị N vay đã trả; Khoản tiền cho vợ chồng anh Nguyễn Văn P1, bà Nông Thị L1 vay 50.000.000 đồng đã trả.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn đình chỉ yêu cầu giải quyết về việc chia đất và một số khoản nợ chung của anh S, tuyên về lệ phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
* Ngày 19/4/2024 bị đơn chị Hoàng Thị H4 nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị chia tài sản ngoài chia cho anh chị phải chia cho 4 người con chung của anh chị.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn chị H4 không rút đơn kháng cáo.
Chị H4 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày bổ sung kháng cáo: Chị và anh S kết hôn năm 1999, trong thời kỳ hôn nhân anh chị tạo lập được khối tài sản là 3 thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như bản án sơ thẩm đã giải quyết. Đối với thửa số 56 Tòa án giao cho anh S là của bố mẹ chị chưa cho vợ chồng chị. Thời điểm anh chị được cấp đất các con anh chị sinh ra và lớn lên trên các thửa đất này, tài sản hình thành của gia đình có sự tích lũy của các con chung, chị đề nghị Tòa án chia cho các con chung của anh chị theo phần các cháu được hưởng. Việc tòa án cấp sơ thẩm thẩm định số cây trên thửa số 56 cũng không đúng, chị đề nghị thẩm định lại. Chị không đồng ý chịu tiền chi phí đo đất đối với thửa anh S đã rút yêu cầu là 5.300.000đồng, chị chỉ đồng ý 3.500.000đồng tiền chi phí đo đất, buộc anh S phải chịu là 7.300.000đồng.
Ngoài ra chị đề nghị xem xét lại hồ sơ cấp giấy ghi sai về nguồn gốc sử dụng đất, Quyết định định giá và Quyết định thẩm định tài sản không thể hiện thửa đất và không nêu rõ tài sản thẩm định là gì. Do chia cả thửa đất số 56 là tài sản của bố mẹ chị nên chị đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
- Anh S trình bày: Tài sản anh và chị được Tòa án sơ thẩm giải quyết là tài sản chung của anh chị tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Việc chị H4 đề nghị Tòa án chia tài sản chung của anh chị cho cả 4 người con chung anh không đồng ý lý do: Thời điểm hình thành nên các thửa đất các con chung của anh chị còn nhỏ, lớn lên lấy vợ, lấy chồng, hiện nay chỉ còn 01 con chung là cháu Tàng Văn T1 còn nhỏ đang ở chung cùng chị H4. Mặt khác các cháu cũng không có nguyện vọng gì và không có yêu cầu gì đối với việc chia tài sản chung của anh chị nên anh không đồng ý yêu cầu của chị H4. Việc chị H4 trình bầy thửa 56 ông bà chưa cho anh chị là không đúng. Anh không đồng ý việc ông bà đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với việc thẩm định lại số cây trồng trên thửa đất số 56 chỉ là do chị H4 muốn kéo dài vụ án nên anh đề nghị Tòa án không chấp nhận đề nghị của chị H4. Việc chị H4 đề nghị hủy giấy chứng nhận anh không đồng ý, thửa đất số 56 này đã được cấp nhiều lần cho anh chị, ông bà không có ý kiến gì thể hiện việc ông bà đã cho, anh chị đã ở và làm nhà và xây dựng tài sản trên đất. Việc chị H4 đề nghị không đồng ý tiền chi phí thẩm định đo đất anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ông Trần Văn H1, bà Chu Thị L2 trình bày: Thửa đất số 56 mặc dù ông bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông bà chưa cho anh chị. Ông bà đang khiếu nại về việc cấp đất này với UBND huyện L, ông bà đề nghị Tòa án tạm đình chỉ để chờ giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 15/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm vấn tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 15/7/2024 chị H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thẩm định lại số lượng cây vải trồng trên thửa đất số 56 và định giá lại để không ảnh hưởng đến quyền lợi của chị. Anh S đưa ra ý kiến thỏa thuận đề nghị không thẩm định và định giá lại thì anh sẽ không buộc chị H phải trả tiền chênh lệch 127.445.000 đồng theo quyết định của Bản án sơ thẩm mà để lại cho các con nhưng chị H không đồng ý. Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xem xét thẩm định lại số lượng cây vải trồng trên thửa đất số 56. Hội đồng xét xử đã quyết định tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm định lại số lượng cây vải trồng trên thửa đất số 56 và thông báo cho chị H nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 156 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị H không tạm ứng chi phí tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị xem xét thẩm định tại tài sản của chị H và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 12/8/2024 anh S trình bày anh không đồng ý cho chị H số tiền 127.445.000đồng theo quyết định của Bản án sơ thẩm nữa, lý do vì chị H gây khó khăn cho anh về việc giải quyết vụ án, anh đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do vậy Hội đồng xét xử không thể cho các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2]. Xét kháng cáo của chị Trần Thị H về việc đề nghị chia 4 thửa đất ngoài chia cho anh chị thì phải chia cho 4 người con chung của anh chị. Hội đồng xét xử thấy:
Tài sản là các thửa đất của anh S và chị H đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Thôn L, xã N, L, Bắc Giang mang tên anh chị gồm:
- - Thửa đất diện tích 1145m² (đo đạc thực tế là 913,5m²) đất trồng lúa nước, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã N, L, Bắc Giang. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 150 cây bạch đàn, 01 cây vải.
- - Thửa đất diện tích 2582,7m² (đo đạc thực tế là 2616,2m²) đất trồng cây lâu năm. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 50 cây vải, 01 cây khế, 01 nhà bếp, 01 nhà cấp 4, 01 giếng đào.
- - Thửa đất diện tích 209m², (đo đạc thực tế là 266,8m²) đất trồng lúa nước. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 01 cây mít, 01 cây xoài. 01 cây cóc, 01 cây dừa, 12 cây bưởi, 03 cây vải, 02 cây ổi.
- - Thửa đất diện tích 731,4m² (đo đạc thực tế là 629m²) đất trồng cây lâu năm. Trên đất có tài sản gắn liền gồm: 01 nhà cấp 4; 01 bán mái tôn khung thép có tường bao quanh, 01 mái che lợp Proximăng khung thép, 01 mái che Proximăng khung gỗ.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm Hội đồng xét xử để chị H đề nghị về việc chia tài sản chung cho các con của anh chị nhưng anh S không đồng ý. Anh đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật còn việc anh có cho các con hay không anh sẽ tự giải quyết nên không thỏa thuận được. Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy: Các con chung của anh chị là cháu Tàng Văn T, Tàng Thị Mỹ X, Tàng Thị D đều có lời khai trong hồ sơ thể hiện các cháu không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì đối với tài sản chung của bố mẹ, chỉ đề nghị chia tài sản cho mẹ nhiều hơn bố. Do vậy việc chị H đề nghị chia tài sản chung của anh chị cho các con chung là không có căn cứ xem xét.
[3]. Đối với việc chị H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thửa đất số 56 là đất của ông H1 bà L2; hồ sơ cấp giấy chứng nhận không ghi rõ nguồn gốc đất chỉ ghi là “bao chiếm” và Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất là không đúng. Hội đồng xét xử thấy: Quá trình sử dụng đất chưa khi nào ông H1 bà L2 kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 56 này, trong khi đó ông H1 bà L2 đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa khác mà ông bà đang sinh sống. Thửa đất số 56 này anh S chị H đã được cấp lại GCN 02 lần (cấp lần đầu năm 2005 và cấp lại lần 2 năn 2016). Bản thân chi H biết việc vợ chồng đã được cấp GCN cũng chưa khi nào khiếu nại gì về việc cấp đất này và ông H1 bà L2 cũng chưa khi nào kê khai để được cấp. Anh S chị H đã sử dụng nhiều năm đã tăng gia sản xuất và xây dựng tài sản cũng nhưng được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử xong ông H1 bà L2 cũng không kháng cáo nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất trên ông H1 bà L2 đã cho anh S chị H là đúng quy định của pháp luật và việc ông bà đề nghị Tòa án tạm đình chỉ để chờ kết quả giải quyết khiếu nại của ông bà Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Việc chị H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị cho rằng Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ và Quyết định định giá tài sản của Tòa án cấp sơ thẩm không ghi rõ tài sản định giá là gì. Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ Hội đồng xét xử thấy: 02 Quyết định đã thể hiện rõ tài sản thẩm định định giá, đã ghi rõ cụ thể là những thửa nào, và toàn bộ tài sản chung khác liên quan đến vụ án. Biên bản thẩm định, định giá cũng mô tả rõ thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên các thửa. Do vậy việc chị H và người bảo vệ quyền và lợi trình bày tại phiên tòa là không có căn cứ.
[5]. Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 148 BLTTDS; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo không được chấp nhận nên chị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[7]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 38/2024/HNGĐ-ST ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Án phí phúc thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006126 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 29/2024/HNGĐ-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
- Số bản án: 29/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sơn chia tài sản Hương
