|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
|
Bản án số: 29/2024/DS-ST
Ngày 11-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Hà và ông Nguyễn Thế Khải
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2023/DS - ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QÐST- DS ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C; địa chỉ trụ sở chính: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B – Chủ tịch Hội đồng quản trị;
Người đại diện theo ủy quyền:
- Bà Lê Thị Thu H – Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C;
- Ông Hà Như H1 – Cán bộ xử lý nợ Ngân hàng TMCP C;
Bị đơn: ;
- Chị U Thị Cẩm V, sinh năm 1998 (có mặt)
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1991(có mặt);
Đều ở địa chỉ: Số nhà C, tổ dân phố T, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn N, sinh năm 1967 ( vắng mặt);
- Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1994 ( vắng mặt);
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1967 ( vắng mặt);
Đều ở địa chỉ: Số nhà C, tổ dân phố T, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 10 năm 2023 và các lời khai tiếp theo bà Lê Thị Thu H là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP C (viết tắt là V1) trình bày: Ngày 06/9/2020, Ngân hàng TMCP C và chị U Thị Cẩm V, anh Phạm Văn Đ có ký Hợp đồng cho vay hạn mức số 086.0095/2020-HĐCVHM/NHCT262, số tiền vay là 600.000.000đ, mục đích để kinh doanh ảnh viện áo cưới, với thời hạn là 12 tháng. Theo giấy nhận nợ ngày 06/9/2020, số tiền nhận nợ là 600.000.000đ, thời hạn cho vay là 12 tháng tính từ ngày 06/9/2020 đến ngày 06/9/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9%/ năm. Để bảo đảm khoản vay trên ông Phạm Văn N đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản là quyền sử dụng đất 445,6 m² tại thửa đất số 104, tờ bản đồ 37 và tài sản gắn liền với đất; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng chị V và anh Đ đã trả được số tiền gốc là 264.000.382đ, tiền lãi trong hạn là 25.857.534đ, tiền lãi quá hạn là 2.298.151đ. Chị V và anh Đ nhiều lần vi phạm không trả được đầy đủ gốc lãi khi đến hạn, kể từ ngày 20/9/2021 khoản vay đã bị chuyển quá hạn.
Nay Ngân hàng TMCP C đề nghị Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên buộc chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải trả số tiền gốc, tiền lãi tính đến hết ngày 11/9/2024 là 478.193.539 đ, trong đó tiền gốc là 316.499.618đ, tiền lãi trong hạn là 109.328.079đ, tiền lãi quá hạn là 52.365.842đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ gốc với lãi suất là 13,5%/ năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 086.0095/2020- HĐCVHM/NHCT262 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu chị V và anh Đ không thanh toán số tiền nêu trên cho V1 thì V1 có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất 445,6 m² và công trình gắn liền với đất tại thửa đất số theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 104, tờ bản đồ 37; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho nhà nước (nếu có) không đủ để trả hết cho nghĩa vụ thanh toán nợ cho V1 thì chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ vẫn phải có trách nhiệm trả hết nợ cho V1. Trường hợp số tiền còn thừa thì trả lại cho chủ tài sản thế chấp.
2
Bị đơn chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ tại phiên tòa trình bày: A, chị xác nhận thời gian ký hợp đồng cho vay hạn mức với Ngân hàng TMCP C, số tiền vay 600.000.000đ để bổ sung kinh doanh ảnh viện áo cưới, tuy nhiên anh chị không có giấy phép đăng ký kinh doanh. Để đảm bảo khoản vay ông Phạm Văn N (là bố của anh Đ) đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ 37; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay hạn mức anh chị đã trả được cho Ngân hàng số tiền là 270.000.000đ. Từ năm 2021 do dịch bệnh covit anh chị không kinh doanh được nên không có tiền để trả cho Ngân hàng. Anh chị xác nhận số tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn như Ngân hàng trình bày là đúng, về tiền lãi kể từ ngày tiếp theo cảu ngày xét xử ngân hàng yêu cầu lãi suất là 13,5%/ năm anh chị không có ý kiến gì. Nay V1 yêu cầu anh chị phải trả số tiền gốc, tiền lãi nêu trên anh, chị đồng ý trả tiền cho Ngân hàng nhưng xin trả dần tiền gốc, còn tiền lãi đề nghị Ngân hàng cho miễn giảm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn N tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai và hòa giải ông N trình bày: Ông là bố đẻ của anh Phạm Văn Đ. Năm 2020 chị V và anh Đ có ký hợp đồng cho vay hạn mức với Ngân hàng TMCP C để vay số tiền là 600.000.000đ để anh chị kinh doanh. Để đảm bảo khoản vay của anh Đ và chị V ông đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 104, tờ bản đồ 37, diện tích là 445,6 m²; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay hạn mức chị V và anh Đ đã trả được cho Ngân hàng cụ thể bao nhiêu thì ông không biết. Khi thế chấp cho Ngân hàng trên đất có 1 ngôi nhà cấp 4, 5 gian, tuy nhiên do nhà xây dựng đã lâu bị dột nát hư hỏng. Vì vậy nên đến tháng 2/2023 anh Phạm Văn Đ1 là con trai thứ 2 của ông đã xây dựng 1 nhà 2 tầng trên thửa đất đã thế chấp cho Ngân hàng để lấy chỗ ở. Nguồn tiền để xây nhà là anh Đ1 có 800.000.000đ, con gái tôi có cho anh Đ1 100.000.000đ, về công xây nhà là do ông đứng ra xây dựng và thuê thợ đến làm, tiền công ông bỏ ra thuê thợ, còn vợ ông thì mua thức ăn nấu cho thợ xây và cả gia đình. Hiện nay có bố ông, vợ chồng ông, anh Đ1 đang ở tại căn nhà này. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay hạn mức chị V và anh Đ đã trả được cho Ngân hàng cụ thể bao nhiêu thì ông không biết. Nay Ngân hàng yêu cầu chị V và anh Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc, tiền lãi, tiền lãi ông đề nghị Ngân hàng tạo
3
điều kiện cho anh Đ, chị V trả dần cho Ngân hàng. Nếu chị V và anh Đ không trả được tiền cho Ngân hàng, Ngân hàng phải xử lý tài sản thế chấp ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai bà L trình bày: Bà là vợ của ông Phạm Văn N. Ông N có thửa đất số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37, diện tích 445,6 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phạm Văn N. Khoảng năm 2020 ông N có ký hợp đồng thế chấp bất động sản quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để đảm bảo khoản vay cho chị chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ. Năm 2020 bà có ký văn bản cam kết quyền về tài sản bà xác nhận thửa đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của ông N. Nếu anh Đ, chị V không trả được nợ cho Ngân hàng và phải xử lý tài sản thế chấp bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn Đ1 tại phiên tòa vắng mặt nhưng tại biên bản lấy lời khai anh Đ1 trình bày: Anh là con trai của ông Phạm Văn N và bà Trần Thị L. Năm 2019 anh có vào Miền Nam làm ăn đến năm 2022 về ở với ông N và bà L. Năm 2023 do nhà chật chội không có chỗ ở nên anh đã bỏ tiền ra cùng với bố anh là ông N xây dựng nhà ở. Nguồn tiền xây nhà là của anh có khoảng 7 – 800.000.000đ, chị gái anh cho anh 200.000.000đ, công xây dựng là do ông N đứng ra xây dựng và thuê thợ làm công nhật. Khi anh xây dựng nhà anh không biết thửa đất thế chấp cho Ngân hàng, khi đang làm nhà thì có người của Ngân hàng đến nhà thì anh mới biết. Nay nếu anh Đ, chị V không trả được tiền cho Ngân hàng và phải xử lý tài sản thế chấp anh không đồng ý.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn, không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về áp phí, lệ phí Tòa án
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C.
Buộc chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C tổng số tiền tính đến hết ngày 11/9/2024 là 478.193.539 đ, trong đó tiền gốc là 316.499.618đ, tiền lãi trong hạn là 109.328.079đ, tiền lãi quá hạn là 52.365.842đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ
4
gốc với lãi suất là 13,5%/năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 086.0095/2020- HĐCVHM/NHCT262 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Trường hợp chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSDĐ và các công trình xây dựng trên thửa đất số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37 (có sơ đồ kèm theo) đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất. Về chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần 2 không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
Quá trình giải quyết vụ án và lấy lời khai của bà Trần Thị L (vợ ông N), bà L trình bày, ngày 27/8/2019, bà có ký cam kết quyền về tài sản, bà cam kết quyền sử dụng đất tại thửa số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37 và tài sản gắn liền với đất là của ông Phạm Văn N. Tài sản trên đất là ngôi nhà 2 tầng là tài sản riêng của ông N bà không có công sức đóng góp gì. Tuy nhiên hiện nay bà L và ông N đang chung sống với anh Đ1 tại ngôi nhà. Hiện nay bà L và ông N là vợ chồng hiện đang chung sống cùng anh Đ1 tại ngôi nhà 2 tầng trên, khi làm nhà bà L có công sức đóng góp vào việc xây nhà. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Tòa án đưa bà Trần Thị L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2] Về quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn chị U Thị Cẩm V không có giấy phép đăng ký kinh doanh nên Tòa án thụ lý loại án là dân sự.
[3] Về pháp luật áp dụng: Năm 2023 các đương sự xảy ra tranh chấp nên pháp luật áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng năm 2011; nghị quyết số 01/2019/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Ngày 06/9/2020, chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ và V1 có ký kết hợp đồng cho vay hạn mức số
5
086.0095/2020-HĐCVHM/NHCT262, số tiền vay là 600.000.000đ để kinh doanh ảnh viện áo cưới. Sau khi ký kết hợp đồng cho vay hạn mức Ngân hàng đã giải ngân cho chị V và anh Đ số tiền 600.000.000đ (theo giấy nhận nợ ngày ngày 06/9/2020, số tiền nhận nợ là 600.000.000đ, thời hạn cho vay là 12 tháng tính từ ngày 06/9/2020 đến ngày 06/9/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 9%/ năm. Để bảo đảm khoản vay ông Phạm Văn N đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37, diện tích 445,6 m²; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05775 mang tên ông Phạm Văn N (theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất. Hợp đồng cho vay hạn mức và hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm cho việc vay vốn, hai bên đã tiến hành ký kết theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Quá trình thực hiện hợp đồng cho vay hạn mức chị V và anh Đ đã trả được số tiền gốc là 264.000.382đ, tiền lãi trong hạn là 25.857.534đ, tiền lãi quá hạn là 2.298.151đ. Sau đó chị V và anh Đ nhiều lần vi phạm không trả được đầy đủ gốc lãi khi đến hạn, kể từ ngày 20/9/2021 khoản vay đã bị chuyển quá hạn. Do chị V và anh Đ vi phạm nghĩa vụ về việc trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng đã ký kết với V1 nên V1 yêu cầu chị V và anh Đ phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 11/9/2024 là 478.193.539 đ, trong đó tiền gốc là 316.499.618đ, tiền lãi trong hạn là 109.328.079đ, tiền lãi quá hạn là 52.365.842đ là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về tiền lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024 Ngân hàng yêu cầu chị V và anh Đ phải trả tiền lãi quá hạn trên dư nợ gốc theo mức lãi suất là 13,5%/năm theo thỏa thuận lãi suất trong Hợp đồng cho vay hạn mức số số 086.0095/2020- HĐCVHM/NHCT262 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc. Xét thấy việc đề nghị về lãi suất nêu trên của Ngân hàng P với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về tài sản thế chấp là quyền sử dụng 445,6 m² đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019 mang tên ông Phạm Văn N. Ông N ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho V1 để đảm bảo khoản vay của chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019 và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất.
Theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019, tại tiểu mục b mục 2.4 Điều 2 Thỏa thuận khác về tài sản thế chấp có ghi: “b. Mọi tài sản thế chấp gắn liền với thửa đất trước và trong quá
6
trình xử lý tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp và bên nhận thế chấp được quyền xử lý, cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tư, cải tạo, xây thêm hay cho phép bên thứ ba đầu tư, cải tạo, xây thêm”.
Về ngôi nhà cấp bốn 5 gian, 02 gian bếp, 01 cổng sắt, công trình phụ xây gạch lợp ngói xây dựng năm 1983, ngôi nhà này là tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Về ngôi nhà 2 tầng lợp ngói, 01 cổng sắt và tường bao loan xây dựng năm 2023, ngôi nhà này do anh Đ1 và ông N xây dựng trên đất sau khi đã thế chấp cho Ngân hàng. Ông N là người ký hợp đồng thế chấp thửa đất để đảm bảo cho khoản vay của anh Đ, chị V vay tiền tại Ngân hàng. Ông N biết thửa đất trên là tài sản thế chấp thì ông không được phép xây dựng nhà ở nhưng ông vẫn để cho anh Đ1 xây dựng nhà và ông còn đứng ra xây dựng nhà cho anh Đ1 nên ông N phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với tài sản thế chấp và ngôi nhà xây dựng mới trên đất. Vì vậy ngôi nhà xây dựng mới năm 2023 vẫn thuộc tài sản thế chấp. Do đó yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất là có căn cứ. Nếu anh Đ, chị V không trả được tiền cho Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị xử lý tài sản thế chấp thì đồng thời xử lý các tài sản trên đất gồm có 01 nhà cấp bốn 5 gian, 02 gian bếp, 01 cổng sắt, công trình phụ xây gạch lợp ngói xây dựng năm 1983 và 01 nhà 2 tầng lợp ngói, 01 cổng sắt và tường bao loan xây dựng năm 2023. Khi phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất thì ưu tiên cho ông N và anh Đ1 được quyền mua tài sản.
Đối với bà Trần Thị L là vợ của ông Phạm Văn N, bà L là người ký bản cam kết trong đó thể hiện quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của ông N, nhưng ông N không ký vào bản cam kết này. Khi Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cho bà L ký vào hợp đồng thế chấp nêu trên là chưa đúng quy định. Tuy nhiên khi ông N ký hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất bà L cũng biết và cùng ngày tại Văn phòng C1 bà L đã có văn bản xác định tài sản ông N thế chấp cho Ngân hàng là tài sản riêng của ông N, bà đồng ý để ông N thế chấp tài sản đó cho Ngân hàng để đảm bảo cho chị V và anh Đ là con trai và con dâu của ông bà vay vốn tại V1. Từ khi ông N ký hợp đồng thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng đến khi Ngân hàng khởi kiện đến Tòa án thành phố V, quá trình giải quyết vụ án bà đều không có ý kiến thắc mắc hoặc đề nghị gì về tính có căn cứ và hợp pháp của hợp đồng thế chấp. Do đó Hợp đồng thế chấp nêu trên được các bên tham gia ký kết, công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thực hiện.
Tòa án đã tiến hành đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa số 104, tờ bản đồ 37; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V, diện tích đất thực tế là 467,8m² tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 22.2m², gia đình ông N không có tranh chấp đất với ai. Về phần diện tích đất tăng hơn so với giấy chứng nhận QSDĐ là do gia đình ông N sử dụng về phía tây và về phía Nam có lấn vào một phần đất giao thông do UBND phường quản lý. Đối với phần đất lấn chiếm này UBND phường H không đề nghị Toà án giải quyết và đề nghị không
7
đưa UBND phường vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng đề nghị nếu chị V và anh Đ không thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho V1 thì V1 có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo diện tích đất được cấp giấy chứng nhận QSDĐ là 445,6 m² đứng tên ông Phạm Văn N. Xét việc đề nghị xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP C phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ do đó Tòa án không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí được trả tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299; Điều 303; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Buộc chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền tính đến hết ngày 11/9/2024 là 478.193.539đ, trong đó tiền gốc là 316.499.618đ, tiền lãi trong hạn là 109.328.079đ, tiền lãi quá hạn là 52.365.842đ. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải trả tiền lãi theo lãi suất nợ quá hạn trên dư nợ gốc với lãi suất là 13,5/năm theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 086.0095/2020- HĐCVHM/NHCT262 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP C có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng 445,6 m² đất tại thửa đất số thửa đất số 104, tờ bản đồ 37; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thành phố V và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp bốn 5 gian, 02 gian bếp và công trình phụ xây gạch lợp ngói, 01 cổng sắt xây dựng năm 1983; 01 nhà 2 tầng lợp ngói, cổng sắt và tường bao loan xây dựng năm 2023. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử hữu và tài sản gắn liền với đất số CR 087185 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh V cấp ngày 31/10/2019 mang tên ông Phạm Văn N, theo hợp đồng thế chấp bất Động sản số 021.0069/2019/HĐBĐ/NHCT262 ngày 27/8/2019 (có sơ đồ kèm theo). Khi phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất thì ông N và anh Đ1 được quyền ưu tiên mua tài sản.
Trường hợp số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm sau khi trừ đi các chi phí cho việc bán tài sản, các khoản phải nộp cho nhà nước (nếu có) không đủ để trả hết cho nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP C thì chị V và anh Đ vẫn phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP C cho đến khi tất toán khoản vay. Nếu số tiền sau khi bán tài sản bảo đảm trừ đi các chi phí còn thừa so với nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP C thì Ngân hàng phải trả lại cho chủ tài sản thế chấp.
2. Về chi phí tố tụng: Không xem xét giải quyết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị U Thị Cẩm V và anh Phạm Văn Đ phải chịu số tiền 23.127.741đ, làm tròn 23.127.000₫ ( Hai mươi ba triệu một trăm hai mươi bẩy nghìn đồng).
Trả lại Ngân hàng TMCP C số tiền 11.143.000đ (Mười một triệu một trăm bốn mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005653 ngày 13/11/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự và luật sửa đổi một số điều của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán– Chủ toạ phiên toà Đã ký Nguyễn Thị Đường |
9
10
Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 29/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. Buộc chị U Thị Cẩm Vân và anh Phạm Văn Đông phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam số tiền tính đến hết ngày 11/9/2024 là 478.193.539đ, trong đó tiền gốc là 316.499.618đ, tiền lãi trong hạn là 109.328.079đ, tiền lãi quá hạn là 52.365.842đ.
