|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 29/2024/DS-ST Ngày: 27-11-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Mai Thị Toán.
Bà Hoàng Thị Diễm Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P (Số B Hồ Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 664/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2024, Quyết đinh tạm ngừng phiên tòa số 723/2024/QĐST-DS ngày 28/10/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H (tên viết tắt: H2).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T, chức danh: Tổng Giám đốc;
Địa chỉ: B N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ chi nhánh: 4 B, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện theo ủy quyền:
- + Ông Nguyễn Viết A, chức vụ: Giám đốc ngân hàng H2 Chi nhánh H3 (theo Quyết định ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan số 1489/2023/QĐ-TGĐ ngày 23/5/2023 của ông Phạm Quốc T). Vắng mặt.
- + Ông Nguyễn Cao T1, chức danh: CV.QHKHCN (theo Giấy ủy quyền số 50/2024/UQ-TTXLN ngày 29/1/2024 của ông Nguyến Viết A1). Có mặt.
1
- Bị đơn: Ông Trần Công Q, sinh năm: 1992 và bà Trần Thị Thu H, sinh năm: 1994; cùng địa chỉ: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/1/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H trình bày:
Ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H có ký kết 02 hợp đồng tín dụng.
- Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 11476/22MB/HĐTD/KUNN02 ngày 18/4/2023 với nội dung: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn bán thủy hải sản; Thời hạn cho vay: 12 tháng, kể từ ngày 19/4/2023 đến ngày 18/4/2024 ; Lãi suất cho vay trong hạn: 13,5%/năm; Kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/1 lần và ngày trả nợ đầu tiên là ngày 25/4/2023; Kỳ hạn trả nợ gốc: Cuối kỳ.
- Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022; và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 11476.01/22MB/HĐTD/KUNN01 ngày 19/4/2022 với nội dung: Số tiền vay: 500.000.000 đồng; Mục đích vay: Mở rộng sản xuất kinh doanh buôn bán thủy hải sản; Thời hạn cho vay: 84 tháng (07 năm), kể từ ngày 20/4/2022 đến ngày 19/4/2029 ; Lãi suất cho vay trong hạn: 10.3%/năm; Kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/1 lần và ngày trả nợ đầu tiên là ngày 25/5/2022 trả 5.952.000 đồng; kỳ hạn trả nợ gốc cuối là 5.984.000 đồng.
Để đảm bảo cho số tiền vay tại 02 hợp đồng đã ký, ông Q, bà H đã tự nguyện thế chấp quyền sử dụng của thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m2 tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 829335 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/4/2006 theo Hợp đồng thế chấp số 11476/22MB/HĐBĐ ngày 18/4/2022.
Ông Q, bà H nhận đủ số tiền vay 1.500.000.000 đồng, tuy nhiên ông Q, bà H không thanh toán nợ đầy đủ theo kỳ hạn cam kết tại 02 hợp đồng tín dụng nên đến ngày 25/10/2023, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 và đến ngày 25/9/2023, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp, nhắc nhở ông Q, bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông ông Q, bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại các biên bản làm việc, cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm, gây cản trở cho ngân hàng trong quá trình làm việc xử lý nợ xấu, thu hồi vốn và quá trình xử lý thu hồi nợ. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H khởi kiện yêu cầu Tòa án: Buộc ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H tính đến ngày xét xử 27/11/2024 đối với 02 hợp đồng là:
- Thanh toán theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 tổng số tiền: 1.201.679.356 đồng; trong đó, số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 79.723.514 đồng, số tiền lãi quá hạn: 121.955.842 đồng.
- Thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 số tiền: 462.321.563 đồng; trong đó, số tiền gốc: 398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 52.136.209 đồng, số tiền lãi quá hạn: 11.369.354 đồng.
Tổng cộng thanh toán cho cả hai hợp đồng số tiền là 1.664.000.919 đồng; trong đó, số tiền gốc: 1.398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 131.859.723 đồng, số tiền lãi quá hạn: 133.325.196 đồng.
Buộc Q, bà H tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn đã cam kết, thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế kể từ ngày 28/11/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông Q, bà H không trả được nợ thì xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m2 tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 829335 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/4/2006 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H thì Q, bà H tiếp phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho đến khi tất toán khoản nợ.
Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu H nhiều lần, tuy nhiên tất cả đều vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, các bên đương sự đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H, buộc ông ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu H phải thanh toán ngay số tiền nợ tính đến ngày 27/11/2024 là 1.664.000.919 đồng (trong đó, số tiền gốc: 1.398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 131.859.723 đồng, số tiền lãi quá hạn: 133.325.196 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 28/11/2024 cho đến ngày ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu Hà tất T2 xong nghĩa vụ trả nợ.
Trong trường hợp ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp đảm bảo cho khoản vay nêu trên là: Toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m² tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 829335 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/4/20063.
Về án phí: Buộc ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Công Q và bà Trần Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và không vì trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
-
Về yêu cầu thanh toán nợ gốc, nợ lãi:
Vợ chồng ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H – Chi nhánh H3 có ký kết 02 hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 để vay số tiền: 1.000.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 để vay số tiền: 500.000.000 đồng. Hai hợp đồng này thể hiện sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái với quy định của pháp luật, 02 bên giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các đương sự cũng thừa nhận hợp đồng này, xác định đây là giao dịch hợp pháp nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 400 và Điều 401 Bộ luật dân sự.
Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H đã giải ngân đầy đủ số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông Q, bà H. Tuy nhiên ông Q, bà H không thanh toán nợ đầy đủ theo kỳ hạn cam kết tại hai hợp đồng tín dụng. Do ông Q, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày25/10/2023, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 và đến ngày 25/9/2023, ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc trực tiếp, nhắc nhở ông Q, bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Q, bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại các biên bản làm việc, cố tình lẫn tránh, không hợp tác, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm nên Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H khởi kiện yêu cầu ông Q, bà H trả nợ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Q, bà H thanh toán số tiền gốc và lãi đến ngày xét xử 27/11/2024 27/11/2024 đối với 02 hợp đồng là:
- Thanh toán theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 tổng số tiền: 1.201.679.356 đồng; trong đó, số tiền gốc: 1.000.000.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 79.723.514 đồng, số tiền lãi quá hạn: 121.955.842 đồng.
- Thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 số tiền: 462.321.563 đồng; trong đó, số tiền gốc: 398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 52.136.209 đồng, số tiền lãi quá hạn: 11.369.354 đồng.
Tổng cộng thanh toán cho cả hai hợp đồng số tiền là 1.664.000.919 đồng; trong đó, số tiền gốc: 1.398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 131.859.723 đồng, số tiền lãi quá hạn: 133.325.196 đồng.
Là đúng quy định pháp luật cần được chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tại phiên tòa.
Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử, ông Q, bà H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
-
Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 và Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18 tháng 4 năm 2022 ký kết giữa ông Q, bà H và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H là: Quyền sử dụng đất thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m² tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 829335 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/4/2006 theo Hợp đồng thế chấp số 11476/22MB/HĐBĐ ngày 18/4/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện P. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được ký kết và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định nên có hiệu lực pháp luật.
Vì vậy, trong trường hợp ông Q, bà H không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H có quyền đề nghị cơ quan thi hành án xử lý toàn bộ tài sản thể chấp là: Quyền sử dụng đất thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m2 tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H. Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ thì ông Q, bà H còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H được chấp nhận nên ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 61.920.000 đồng. H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 30.189.257 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 1968 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274, Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 463 và khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H:
- - Buộc ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H số tiền gốc, lãi đến ngày xét xử 27/11/2024 là 1.664.000.919 đồng (trong đó, số tiền gốc: 1.398.816.000 đồng, số tiền lãi trong hạn: 131.859.723 đồng, số tiền lãi quá hạn: 133.325.196 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 11476/22MB/HĐTD ngày 18/4/2022 và Hợp đồng tín dụng số 11476.01/22MB/HĐTD ngày 18/4/2022
- - Trong trường hợp ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thể chấp bảo đảm cho khoản vay được mô tả cụ thể tại Hợp đồng thế chấp số 11476/22MB/HĐBĐ ngày 18/4/2022 là: Quyền sử dụng đất thửa đất số 814.2, tờ bản đồ số 04, diện tích: 494m2 tọa lạc tại Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ 829335 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 06/4/2006 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H. Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H thì ông Q, bà H còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Công Q, bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 61.920.000 đồng. H1 lại số tiền tạm ứng án phí là 30.189.257 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố H theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 1968 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 29/2024/DS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 29/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
