Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 29/2023/HS-ST

Ngày 17-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Hoàng Văn Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Ngọc Liên.
Ông Trịnh Thái Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLST-HS ngày 01/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 03/11/2023 đối với bị cáo:

Phàn Văn M; tên gọi khác: Không; sinh năm 1977; nơi sinh: huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phàn Văn K, sinh năm 1936 và con bà: Lý Thị D, sinh năm 1938 (đã chết); có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ: Trương Thị S, sinh năm 1978 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa: Bà Lục Thùy L - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (Có mặt).

Nguyên đơn dân sự: Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện B; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C – Viên chức Ban quản lý (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 10 năm 2021 (không nhớ ngày) do cần gỗ để làm nhà ở nên Phàn Văn M một mình đem theo 01 máy cưa xăng, màu sơn cam đen (xăng nhớt đổ sẵn); 01 con dao quắm đi vào trong khu rừng phòng hộ thuộc thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang. Đến nơi M phát hiện thấy 01 cây gỗ Nghiến còn tươi, đường kính khoảng 80cm, dài khoảng 15m, M dùng dao phát cây cỏ xung quanh rồi dùng máy cưa xăng cắt trong khoảng 30 phút thì cây đổ. Mành dự định đợi cây

khô rồi mới xẻ nên sau khi cây đổ Mành chưa khai thác ngay mà đi về nhà.

Ngày 05/5/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã phối hợp với các ngành chức năng tiến hành xác định hiện trường cho Phàn Văn M chỉ dẫn vị trí gốc cây do M khai thác trái phép. Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường xác định cây gỗ (kí hiệu G2 có tọa độ E: 00461440, N: 02519841) bị chặt hạ có tổng khối lượng là 9,533 m³ (Chín phẩy năm ba ba mét khối). Sau khi khám nghiệm hiện trường đã trích mẫu để giám định (mẫu ký hiệu M2) và lập biên bản tạm giao khối lượng gỗ còn tại hiện trường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý.

Tại Bản Kết luận giám định tư pháp số 02-2023/KL/TCGĐ ngày 05/6/2023 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh H kết luận: “Mẫu M2; Tên Việt Nam: Nghiến, Tên khoa học: B (Gagnep.) K1. (Excentrodendron tonkinense (A.chev.) H.T.Chang & R.H.Miau). Nghiến là cây gỗ lớn thuộc chi Nghiến, họ Đ (T), lớp Hai lá mầm (D), ngành Hạt kín (Angiospermae). Loại N (Excentrodendron tonkinense) được xếp nhóm IIA trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm” ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ...".

Tại Công văn số 15/KL ngày 02/6/2023 của Hạt kiểm lâm huyện B và Công văn số 237/CV-TNMT ngày 02/6/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B xác định: Vị trí tọa độ khai thác thuộc tiểu khu A; khoảnh 7; lô 7; chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên; chủ rừng: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang.

Ngày 21/6/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hà Giang đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phàn Văn M về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTTHS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 cây gỗ Nghiến khối lượng là 9,533m³ có giá trị 97.236.600 đồng (Chín mươi bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm đồng).

Ngoài ra, vào tháng 10 năm 2022 Mành còn cùng Trương Văn G, Trương Văn Q, Trương Văn H người cùng thôn đã thực hiện hành vi cưa xẻ một khúc gỗ khối lượng 1,492m³ mục đích xẻ lấy thớt mang đi bán. Tuy nhiên khối lượng gỗ khai thác dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự nên CSĐT Công an huyện B đã tách hành vi này và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện B xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) cây gỗ nghiến còn tại hiện trường có khối lượng là 9,533m³ (Chín phẩy năm trăm ba mươi ba mét khối). Hiện đang tạm giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B quản lý; 01 (một) chiếc máy cưa xăng, không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam – đen, lam xích dài 80 cm, máy cũ đã qua sử dụng.

Đối với vật chứng là con dao quắm và các chai nhựa đựng xăng nhớt, M khai sau khi dùng xong dao bị gãy cán, cũ hỏng nên đã vứt đi, các chai nhựa đựng xăng nhớt cũng vứt đi không rõ ở đâu nên không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSBM ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Phàn Văn M về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa, trên cơ sở phân tích các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Phàn Văn M phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
  • - Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt Phàn Văn M từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng.
  • - Về hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) cây gỗ nghiến còn tại hiện trường có khối lượng là 9,533m³ (Chín phẩy năm trăm ba mươi ba mét khối);

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc máy cưa xăng, không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam – đen, lam xích dài 80cm, máy cũ đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Phàn Văn M miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 BLHS là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên cần xem xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo là do nhu cầu để làm nhà ở nhưng điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo không được học hành nên thiếu hiểu biết pháp luật, không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, luôn hợp tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, thân nhân có bố đẻ là người có công với cách mạng tham gia dân công hỏa tuyến được Nhà nước chứng nhận. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo 09 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung và án phí: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Phàn Văn M nhất trí với quan điểm của người bào chữa và không có tranh luận đối đáp gì.

Đại diện Viện kiểm sát không nhất trí mức án do người bào chữa đề nghị. Người bào chữa không có tranh luận đối đáp gì.

Bị cáo thực hiện lời nói sau cùng xin được áp dụng mức án thấp nhất, cho bị cáo hưởng án treo chấp hành án tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng của vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào tháng 10 năm 2021 (không rõ ngày cụ thể), bị cáo Phàn Văn M, đã có hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ nghiến (thuộc nhóm IIA) có khối lượng 9,533 m³ (Chín phẩy năm ba ba mét khối) có giá trị là 97.236.600 đồng (Chín mươi bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm đồng) tại tiểu khu A, khoảnh 7, lô 7 thuộc địa phận thôn P, xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện B, tỉnh Hà Giang quản lý. Như vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo điểm d khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...

d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 07 mét khối (m³) đến dưới 15 mét khối (m³) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 05 mét khối (m³) đến dưới 10 mét khối (m³) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA;”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; tác động xấu đến môi trường sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng đến chức năng bảo vệ của rừng phòng hộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi

khai thác gỗ không có giấy phép là trái pháp luật nhưng vẫn một mình đi lên rừng phòng hộ khai thác 01 cây gỗ nghiến thuộc nhóm IIA gây thiệt hại là 97.236.600 đồng. Tuy nhiên động cơ mục đích khai thác gỗ của bị cáo là do nhu cầu vật liệu để làm nhà để ở vì gia đình không có nhà ở kiên cố, đã bị hư hỏng xuống cấp. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đồng thời đảm bảo được tính nhân đạo của pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, trước khi phạm tội luôn chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của địa phương, trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế, có bố đẻ tham gia Dân công hỏa tuyến được Nhà nước chứng nhận, hiện là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[5] Bị cáo Phàn Văn M đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Xét thấy bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo nên không cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm ruộng, không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cây gỗ nghiến còn tại hiện trường có khối lượng là 9,533m³ (Chín phẩy năm trăm ba mươi ba mét khối) là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước cần tịch thu sung ngân sách nhà nước và 01 (một) chiếc máy cưa xăng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với cây gỗ Nghiến bị cáo chặt hạ vẫn còn nguyên tại hiện trường do đó nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Phàn Văn M là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn nộp án phí. Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Trong vụ án này còn có hành vi và đối tượng liên quan sau: Hành vi khai thác 01 khúc gỗ Nghiến có khối lượng 1,492m³ của M, Trương Văn G,

Trương Văn Q, Trương Văn H vào tháng 10 năm 2022 để xẻ làm thớt bán. Do giữa hai hành vi khai thác có khoảng cách về thời gian, không liên tục và khối lượng lần khai thác thứ hai dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự nên việc Cơ quan CSĐT Công an huyện B hành vi và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện B xem xét xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ. Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Từ những căn cứ trên đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ được chấp nhận.

[12] Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt từ 09 tháng tù đến 10 tháng tù cho hưởng án treo là có căn cứ nhưng HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn M phạm tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 232; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 2, Điều 4 Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt: Phàn Văn M 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phàn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Hà Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.

Hủy bỏ ngay biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

3. Về hình phạt bổ sung: Không.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) cây gỗ nghiến còn tại hiện trường có khối lượng là 9,533m³ (Chín phẩy năm trăm ba mươi ba mét khối).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc máy cưa xăng, không ghi nhãn hiệu, màu sơn cam – đen, lam xích dài 80 cm, máy cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày

08/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).

5. Về trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phàn Văn M được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện + tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - UBND xã Yên Định, huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Hoàng Văn Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (hình sự)

  • Số bản án: 29/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phàn Văn M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger