Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B


Bản án số: 29 /2021/HNGĐ-ST
Ngày 02/3/2022
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến - Cán bộ hưu; Ông Hoàng Văn Thành - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa do không thu thập tài liệu chứng cứ.

Trong ngày 02/3/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý 07/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/01/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y, sinh ngày 10/10/1980. (xin vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Trại Na, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc C, sinh ngày 17/10/1977. (xin vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Trại Na, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B.

Hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài ở địa chỉ: Số 5968 Inverness ST, Vancouver, Canada.

Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng của anh C: anh Nguyễn Văn Sơn.

Địa chỉ: Thôn Đồng Tuấn, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Khắc C trên cơ sở có sự tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và chung sống cùng nhau từ năm 1997 nhưng đến ngày 16/5/2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B. Sau khi cưới thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Sau đó một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh chị đã tìm cách khắc phục và được gia đình bạn bè khuyên giải nhưng không có kết quả. Đến tháng 8 năm 2019 anh C bỏ đi nước ngoài, để các con lại cho chị chăm sóc. Từ đó đến nay vợ chồng chị sống ly thân, không còn liên lạc với nhau nữa. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Khắc C.

2. Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 3 con chung là Nguyễn Thị Kiều Linh, sinh ngày 27/4/1998, Nguyễn Thị Quyên, sinh ngày 27/10/2011 và Nguyễn Quang Khải, sinh ngày 02/10/2015. Hiện con chung là Kiều Linh đã trưởng thành tự lo được cho bản thân. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị nuôi cháu Quyên và cháu Khải. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung, các khoản nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng, công nợ không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Khắc C hiện đang lao động ở nước ngoài có gửi bản tự khai có xác nhận của Tổng lãnh sự quán nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver, Canada thể hiện quan điểm: Đồng ý ly hôn với chị Y. Về con chung, anh đồng ý giao cháu Quyên và cháu Khải cho chị Y nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản và nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa chị Y và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y.

[4]. Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Thị Quyên và Nguyễn Quang Khải cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Y không yêu cầu.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Khắc C.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Quyên sinh ngày 27/10/2011 và Nguyễn Quang Khải sinh ngày 02/10/2015 cho chị Vũ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Khắc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Vũ Thị Y không yêu cầu.
  3. Về án phí: Chị Vũ Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm (đã nộp tạm ứng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh B;
- Cục THADS tỉnh B;
- UBND xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ





Hoàng Thị Hải Hường
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2021/HNGĐ-ST ngày 02/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 29/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/03/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y, sinh ngày 10/10/1980.( xin vắng mặt) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Trại Na, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B. Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc C, sinh ngày 17/10/1977. ( xin vắng mặt) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Trại Na, xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger