Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 29/2021/DS-PT
Ngày 25/9/2021
“V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Bà Phạm Thị Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2021/TLPT-DS ngày 09/3/2021 về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2020/DS-ST ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 24/2021/QĐ-PT ngày 06/9/2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế T, sinh năm 1966.
    Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971.
    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế T: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971.
    Đều ở địa chỉ: Số nhà 8, đường TN, khu dân cư TH, phường SĐ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
  2. Bị đơn: Ông Hoàng Đình M, sinh năm 1962.
    Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970.
    Đều ở địa chỉ: Số nhà 6, đường TN, khu dân cư TH, phường SĐ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
    Người đại diện theo ủy quyền của ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N: Ông Chu Thanh B, sinh năm 1969. Địa chỉ: xã K, huyện KT, tỉnh Hải Dương.
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Thế T, bị đơn là ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N.

Tại phiên tòa có mặt ông T, bà H, ông B; vắng mặt ông M, bà N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án dân sự sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thế T và bà Nguyễn Thị H trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 436, tờ bản đồ số 3 tại số nhà 8, đường TN, khu dân cư TH, phường SĐ, thành phố C, tỉnh Hải Dương của ông Nguyễn Thế T và bà Nguyễn Thị H do bố mẹ đẻ bà H là cụ Nguyễn Xuân X và cụ Nguyễn Thị S tặng cho vào năm 2003. Khi cho, cụ X, cụ S có chia đất cho các con và cho hai cụ, lấy ranh giới đất của từng thửa, bắt đầu từ nhà bà L là phần diện tích nhà, tiếp theo là phần đất của nhà bà H bắt đầu từ tường nhà bà L, hai cụ không đo vẽ cụ thể. Quá trình sử dụng đất, giữa nhà ông T, bà H và ông Q, bà L không xảy ra tranh chấp đất. Ông T, bà H xác định ranh giới đất của nhà ông Q, bà L chỉ là tường nhà của ông Q, bà L và hai bên không xây ranh giới cũng như không đánh dấu mốc giới. Ông T và bà H được UBND huyện C (nay là UBND thành phố C), tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 998072 ngày 15/01/2010. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng trình tự, các hộ giáp ranh có ký xác nhận diện tích đất. Năm 2004, ông T, bà H xây nhà kiên cố, phía trước là nhà 2 tầng, 1 mái rộng, phía sau là 3 tầng, móng bè trên thửa đất này. Khi xây dựng, ông bà đã xây lùi lại, để lại phần đất lưu không với đất bên cạnh là đất của ông Q, bà L (sau này đất này của ông M, bà N) khoảng 4m2 theo chiều dài thửa đất. Mục đích ông T, bà H để lại phần lưu không trên để không làm lún nứt nhà ông Q, bà L đã có từ trước. Thêm nữa, khi đó nhà đất của ông Q, bà L hẹp ngang, tại đoạn đi ra đằng sau nấu bếp không thể bê được mâm cơm nên ông bà lùi lại để cho ông Q, bà L đi nhờ, sử dụng vì cùng là chị em trong nhà, còn ông Q, bà L bán cho người khác thì ông T, bà H không đồng ý cho sử dụng diện tích đất này. Ông bà không biết ông Q, bà L chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông M, bà N từ khi nào, vì từ năm 2011, vợ chồng ông Q chuyển đi về Hà Nội thì nhà cho rất nhiều người thuê nhà bán hàng, trong đó có cả ông M, bà N. Đến khoảng tháng 10 năm 2017, ông M và bà N xây nhà, đã phá nhà cũ đi và xây nhà mới, lấn chiếm diện tích là 4m2 đất lưu không, khoét vào phần móng nhà của ông bà thì ông bà mới biết ông Q, bà L đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông M, bà N. Khi ông M, bà N xây nhà, ông bà đã yêu cầu dừng xây dựng công trình vì đã lấn chiếm diện tích đất nhà ông bà, khoét vào móng, làm lún nứt nhà và có đơn đề nghị UBND phường Sao Đỏ tiến hành hòa giải hai lần không thành. Nay ông bà yêu cầu ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N trả lại ông bà diện tích đất đã lấn chiếm là khoảng từ 3m2 đến 5m2, tại phần đất giáp ranh giữa đất nhà ông bà và đất nhà ông M, bà N.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 3 tại số nhà 6, đường TN, khu dân cư TH, phường SĐ, thành phố C, tỉnh Hải Dương là do ông bà nhận chuyển nhượng của ông Lưu Văn Q và bà Nguyễn Thị L từ ngày 22/3/2014. Khi nhận chuyển nhượng, các hộ giáp ranh có ký xác nhận trong biên bản xác minh hiện trạng nhà đất hay không thì ông bà không rõ. Ông bà đã được UBND thị xã C (nay là UBND thành phố C), tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 08320 ngày 19/5/2014. Đến ngày 10/10/2017, ông bà tiến hành xây dựng nhà 4 tầng kiên cố. Khi ông bà xây dựng, đào móng xây nhà thì tường nhà ông T, bà H đã có sẵn, cố định từ trước, giáp ranh giữa hai bức tường của hai nhà nên không thể có sự xê dịch mốc giới lấn sang nhà ông T, bà H. Nay ông bà xác định diện tích đất thực tế nhà ông bà thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông bà yêu cầu kích thước 4cm là rãnh giữa tường nhà ông T, bà H và tường nhà ông bà thuộc đất của ông bà và ông bà không lấn chiếm đất của ông T, bà H nên không đồng ý trả đất cho nhà ông T, bà H.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148, Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông T và bà H, ông M và bà N. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2020/DS-ST ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế T và bà Nguyễn Thị H. Xác định ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N đã lấn chiếm phần đất ở có diện tích 0,77m2 (được giới hạn bởi các điểm A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7 đến A8) thuộc quyền sử dụng của ông T, bà H tại thửa số 436, tờ bản đồ số 03, địa chỉ: đường TN, khu dân cư TH, phường SĐ, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Giao cho ông M, bà N được quyền sử dụng 0,77m2 đất ở đã lấn chiếm nói trên nhưng có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông T, bà H là 46.200.000 đồng.
  2. Về chi phí tố tụng và án phí: Buộc ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N phải chịu chi phí thẩm định, định giá là 13.030.000 đồng.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- TAND Tp Chí Linh;
- Chi cục Thi hành án dân sự Tp Chí Linh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)

Nguyễn Thị Hoài Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 29/2021/DS-PT ngày 25/09/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 29/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T, bà H yêu cầu ông Hoàng Đình M và bà Nguyễn Thị N trả lại ông bà diện tích đất đã lấn chiếm là khoảng từ 3m2 đến 5m2, tại phần đất giáp ranh giữa đất nhà ông bà và đất nhà ông M, bà N.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger