|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số:289/2023/HS - ST Ngày 28/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- 2. Ông Nguyễn Ngọc Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 240/2023/TLST-HS ngày 03/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1980 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số F P, phường Q, thị xã S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn D, sinh năm 1945 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; Theo danh bản, chỉ bản số 563 lập ngày 28/07/2023 tại Công an huyện S thì bị cáo có 04 tiền án:
- Bản án số 07/2008/HSST ngày22/8/2008, Tòa án nhân dân thành phố Sơn Tây, Hà Nội xử phạt Nguyễn Anh T 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được xóa án).
- Bản án số 141/2009/HSST ngày 29/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Nam Từ Liêm, Hà Nội xử phạt Nguyễn Anh T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được xóa án).
- Bản án số 112/2013/HSST ngày 18/9/2013, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Hà Nội xử phạt Nguyễn Anh T 27 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (chưa được xóa án do chưa bồi thường dân sự).
- Bản án số 265/2020/HSST ngày 27/11/2020, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xử phạt Nguyễn Anh T 40 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã chấp hành án xong tháng 11/2023).
2. Người bị hại: Chị Lê Thị S, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn Ấ, xã M, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Cao M, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số E đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Năm 2020, Nguyễn Anh T có quan hệ quen biết với chị Lê Thị S (sinh năm 1980; trú tại thôn Ấ, xã M, huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Ngày 22/3/2020, T mượn chị S 01 chiếc xe máy Honda Lead BKS 30K6 – 9555 đi xuống H có việc. Khi T đi qua Ngã tư sở thì bị Công an giao thông bắt do không đội mũ bảo hiểm. Do không có giấy tờ xe nên T gọi điện thoại cho chị S để nhờ chị S mang giấy tờ xe đến nhưng chị S không đi. Sau đó, T đi xe ôm về nhà chị S lấy giấy tờ và quay lại chỗ giao thông để giải quyết. T nộp tiền phạt nên không bị cảnh sát giao thông lập biên bản. Do hết tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 23/3/2020, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của chị S. T mang chiếc xe trên đi cầm cố tại cửa hàng cầm đồ M của anh Trịnh Cao M (sinh năm 1983 ở số E đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội) được số tiền 8.000.000đ, sau đó T bắt xe lên Lạng Sơn và đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi nhận cầm cố của T, do hết hạn hợp đồng nên anh M đã bán chiếc xe máy trên cho khách hàng không rõ địa chỉ cụ thể, hiện Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc xe máy trên.
Ngày 22/3/2020, chị S liên hệ với T đòi lại chiếc xe máy trên, tuy nhiên, T không trả và ngắt liên lạc với chị S. Ngày 23/3/2020, chị S trình báo cơ quan công an.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 116 ngày 29/5/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sóc Sơn, Hà Nội kết luận: 01 chiếc xe máy Honda Lead BKS 30K6 – 9555 bị chiếm đoạt trị giá 8.000.000 đồng.
Về dân sự: Chị Lê Thị S yêu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng nhưng đến nay bị cáo T vẫn chưa bồi thường.
Đối với anh Trịnh Cao M: Khi T đến cầm cố chiếc xe máy trên cho anh M, có giấy tờ xe đầy đủ; anh M không biết tài sản trên là do người khác phạm tội mà có. Thời điểm Cơ quan điều tra làm việc, anh M xuất trình đầy đủ giấy tờ kinh doanh dịch vụ cầm đồ do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 228/CT-VKS ngày 30/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (...) thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a. Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.."
Tại phiên toà:
Bị cáo Nguyễn Anh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị cáo nhất trí bồi thường theo như yêu cầu của người bị hại.
Người bị hại, chị Lê Thị S yêu cầu bồi thường trị giá chiếc xe máy bị cáo T chiếm đoạt là 10.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Anh T theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 175; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về phần dân sự: Buộc bị cáo T bồi thường cho chị S 10.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Ngày 22/3/2020, tại nhà của chị Lê Thị S (ở thôn Ấ, xã M, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), Nguyễn Anh T mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, BKS 30K6 – 9555 của chị S để đi lại. Đến ngày 23/3/2020, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên T mang xe của chị S đi cầm cố cho anh Trịnh Cao M lấy số tiền 8.000.000₫ sau đó bỏ trốn khỏi địa phương và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu; bản thân bị cáo chưa chấp hành xong Bản án số 112/2013/HSST ngày 18/9/2013, Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội (chưa bồi thường dân sự) vì vậy lần phạm tội này là tái phạm . Mặt khác đến tại thời điểm xét xử bị cáo chưa khắc phục hậu quả, bồi thường tài sản đã chiếm đoạt cho bị hại do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo do có thái độ khai báo thành khẩn.
[4] Về dân sự: Theo bản kết luận định giá tài sản ngày 29/5/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S xác định chiếc xe máy Honda Lead BKS 30K6 – 9555 của chị S bị chiếm đoạt trị giá 8.000.000 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường (10.000.000 đồng ) theo yêu cầu chị S - sự thỏa thuận của các bên về phần dân sự là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên được ghi nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, và những người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
-
Áp dụng Đ a Khoản 1 Điều 175; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- + Về phần dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Anh T bồi thường cho chị Lê Thị S số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng).
- + Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 500.000. đ (Năm trăm nghìn đồng) án phí DSST để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại đều có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường |
Bản án số 289/2023/HS - ST ngày 28/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 289/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Anh Tuấn phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
