|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 289/2024/DS-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sỹ
Ông Nguyễn Ron
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 50/2024/TLST-KDTM ngày 21/6/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 311/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 343/2024/QĐST-KDTM ngày 06/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ 22 đường N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đình L - Chủ tịch HĐQT; người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hồ Việt H – Phó giám đốc khối quản lý và tái cấu trúc tài sản; uỷ quyền lại: Bà Nguyễn Thị Kim X, ông Hoàng Thế Q, ông Nguyễn Văn L1, bà Phan Thị Thanh H1, ông Nguyễn Trần Phước B, địa chỉ số B đường C tháng D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Bị đơn: Bà Đặng Thị Mỹ C, sinh năm 1972
Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1967
Cùng địa chỉ: Tổ C, khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Tại phiên tòa, ông L1 có mặt; bà C, ông Ú vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – do ông Nguyễn Văn L1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Giữa Ngân hàng và bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú đã ký kết Hợp đồng cho vay số 1207/2020/HĐTD/PVB-DT ngày 21/07/2020, hợp đồng với các nội dung chính, số tiền vay 340.000.000 đồng, thời hạn cho vay 72 tháng, mục đích sử dụng vốn vay mua xe ô tô tiêu dùng, ngoài ra hợp đồng còn có các nội dung khác như lãi suất, thời hạn vay và phương pháp tính lãi, kỳ trả lãi, hình thức giải ngân.... Để bảo đảm cho khoản vay, bà C, ông Ú đã dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Kia, số loại Soluto, màu đen, số khung 41A4LC178059, số máy G4LCK1175967, BKS: 77A-170.28 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 040498 do Phòng CSGT - Công an tỉnh B cấp ngày 20/07/2020 để thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1207/2020/HĐBĐ/PVB-DT ngày 21/07/2020.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C, ông Ú chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền 226.517.181 đồng, từ ngày 25/03/2023 bà C, ông Ú đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C, ông Ú phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến hết ngày 27/09/2024 là 248.681.152 đồng, trong đó gốc 193.369.938 đồng, tổng nợ lãi 55.311.214 đồng gồm nợ lãi trong hạn 36.363.294 đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn 15.836.807 đồng, nợ lãi trên lãi trong hạn chậm thanh toán 3.111.113 đồng và bà C, ông Ú tiếp tục trả các khoản nợ lãi, phí phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp nếu bà C, ông Ú không thanh toán hết nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thanh toán khoản nợ của bà C, ông Ú tại Ngân hàng.
*/ Bị đơn bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa không lấy được lời khai.
*/ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] HĐXX xác định tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vì mục đích của bên vay khi ký kết hợp đồng tín dụng là mua xe ô tô phục vụ nhu cầu tiêu dùng gia đình.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà C, ông Ú.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:
Giữa Ngân hàng và bà C, ông Ú đã ký kết Hợp đồng cho vay số 1207/2020/HĐTD/PVB-DT ngày 21/07/2020, hợp đồng với các nội dung chính số tiền vay 340.000.000 đồng, thời hạn cho vay 72 tháng, mục đích sử dụng vốn vay mua xe ô tô tiêu dùng, ngoài ra hợp đồng còn có các nội dung khác như lãi suất và phí, trả nợ gốc, lãi vay, biện pháp bảo đảm... Để bảo đảm cho khoản vay, bà C, ông Ú đã dùng tài sản thuộc sở hữu của mình là 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Kia, số loại Soluto, màu đen, số khung 41A4LC178059, số máy G4LCK1175967, BKS: 77A-170.28 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 040498 do Phòng CSGT - Công an tỉnh B cấp ngày 20/07/2020 để thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1207/2020/HĐBĐ/PVB-DT ngày 21/07/2020.
HĐXX nhận thấy, Hợp đồng cho vay số 1207/2020/HĐTD/PVB-DT ngày 21/07/2020 nói trên được ký kết bởi các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên đủ cơ sở để HĐXX xác định giao dịch nói trên đều hợp pháp. Quá trình thực hiện hợp đồng bà C, ông Ú thường xuyên không thanh toán gốc, lãi đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, theo đó khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà C, ông Ú phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 27/9/2024 là 248.681.152 đồng, trong đó gốc 193.369.938 đồng; tổng nợ lãi: 55.311.214 đồng gồm nợ lãi trong hạn 36.363.294 đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn 15.836.807 đồng, nợ lãi trên lãi trong hạn chậm thanh toán 3.111.113 đồng và và tiếp tục phải chịu lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay 1207/2020/HĐTD/PVB-DT ngày 21/07/2020 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ. Ngoài ra, xét Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1207/2020/HĐBĐ/PVB-DT ngày 21/07/2020 đã được công chứng, đăng ký theo đúng quy định của pháp luật nên đây là căn cứ phát sinh quyền nghĩa vụ của các bên khi phát sinh tranh chấp. Trường hợp nếu bà C, ông Ú không thanh toán hết nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1207/2020/HĐBĐ/PVB-DT ngày 21/07/2020 để thanh toán khoản nợ của bà C, ông Ú tại Ngân hàng để thu hồi nợ là có căn cứ theo quy định tại các Điều là có căn cứ theo quy định tại các Điều 298, 299; 317, 319, 321, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[3] Về án phí DSST và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
[3.1] Về án phí DSST: Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn bà C, ông Ú phải chịu án phí 12.434.000 đồng; hoàn trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tổng cộng 1.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã tạm ứng chi phí 1.000.000 đồng do đó, bà C, ông Ú phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 298, 299; 317, 319, 321, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ.
Buộc bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ đến ngày 27/9/2024 là 248.681.152 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn một trăm năm mươi hai đồng), trong đó gốc: 193.369.938 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm ba mươi tám đồng); Tổng nợ lãi: 55.311.214 đồng (Năm mươi lăm triệu ba trăm mười một nghìn hai trăm mười bốn đồng) gồm nợ lãi trong hạn 36.363.294 đồng (Ba mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng), nợ lãi trên gốc quá hạn 15.836.807 đồng (Mười lăm triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn tám trăm lẻ bảy đồng), nợ lãi trên lãi trong hạn chậm thanh toán 3.111.113 đồng (Ba triệu một trăm mười một nghìn một trăm mười ba đồng), và tiếp tục phải chịu lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay 1207/2020/HĐTD/PVB-DT ngày 21/07/2020 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 1207/2020/HĐBĐ/PVB-DT ngày 21/07/2020.
2. Về án phí DSST và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
2.1. Về án phí DSST: Bị đơn bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú phải chịu 12.343.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng); Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền 5.856.000 đồng (Năm triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0001135 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
2.2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Đặng Thị Mỹ C, ông Nguyễn Văn Ú phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Định |
Bản án số 289/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 289/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
