Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 289/2024/HS-ST

Ngày: 20 -8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quý

2. Bà Hoàng Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 309/2024/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Quang T - Sinh ngày: 12/6/1983; Nơi cư trú: số nhà B L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn H, sinh năm 1959 và bà: Phạm Thị C, sinh năm 1960; Có vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1983 (Đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2003; Tiền án: Ngày 03/3/2016, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy", chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2021; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15/10/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xử phạt 24 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/11/2010; Tạm giữ: 12/4/2024; Tạm giam: 15/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tinh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Hữu K - Sinh ngày: 10/10/1976; Nơi cư trú: thôn A A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu D, sinh năm 1943 và bà: Lê Thị C1 (Đã chết); Có vợ: Lê Thị T1, sinh năm: 1976 và 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Ngày 27/7/2010, bị Tòa án nhân dân tối cao Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 năm tù về tội "Lưu hành tiền giả", chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/3/2021; Tiền sự: không; Tạm giữ: 12/4/2024; Tạm giam: 15/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/4/2024, Công an phường Đ, thành phố T làm việc đối với Lê Quang T về vụ việc ném chất bẩn xảy ra ngày 04/4/2024 tại phố T, phương Đ, thành phố T, phát hiện trong điện thoại di động Iphone 7 của T có các tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc bằng hình thức lô đề. Quá trình điều tra, Lê Quang T và Nguyễn Hữu K đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Cụ thể như sau:

Do mối quan hệ quen biết từ trước, Lê Quang T đã dùng điện thoại di động Iphone 7, lắp sim số 0569.626.605 để nhắn tin mua bán số lô, số đề với Nguyễn Hữu K, trực tiếp tính tiền thắng thua với nhau. T và K thống nhất 01 điểm đề = 800 đồng, trúng thưởng được hưởng 70.000 đồng; 01 điểm lô = 22.000 đồng, trúng thưởng được hưởng 80.000 đồng; 01 điểm lô xiên = 8.000 đồng, trúng thưởng được hưởng 45.000 đồng. T và K đã đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề cụ thể:

Ngày 22/7/2023, T bán cho K tổng cộng 900 điểm lô = 19.800.000 đồng. Đối chiều kết quả xổ số trong ngày, K không trúng thưởng, vì vậy số tiền đánh bạc giữa T và K là 19.800.000 đồng.

Ngày 11/03/2024, T bán cho K 900 điểm lô = 19.800.000 đồng; 1000 điểm đề = 800.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, K trúng thưởng 500 điểm lô = 40.000.000 đồng, không trúng đề. Vì vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T và K là 60.600.000 đồng.

Ngày 14/03/2024, T bán cho K 300 điểm lô = 6.600.000 đồng; 100 điểm lô xiên 3 = 800.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, K trúng thưởng 100 điểm lô = 8.000.000 đồng. Vì vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T và K là 15.400.000 đồng.

Ngày 16/03/2024, T bán cho K 500 điểm lô =33.000.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, K không trúng thưởng. Vì vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T và K là 33.000.000 đồng.

Ngày 19/03/2024, T bán cho K 900 điểm lô = 19.800.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số trong ngày, K không trúng thưởng. Vì vậy tổng số tiền đánh bạc giữa T và K là 19.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc giữa Lê Quang T và Nguyễn Hữu K trong các lần trên là 148.600.000 đồng, hai bên đã thanh toán đủ tiền thắng thua.

Về cách thức đánh bạc và tính thắng thua: Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày để làm số lô, số đề. Người mua phải trả tiền cho người bán để được lựa chọn các số lô, số đề. Người bán là người nhận mua số lô, số đề của người mua và phải trả tiền thắng nếu người mua trúng thưởng các số lô, số đề và ngược lại nếu người mua không trúng thưởng thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền mua số lô, số đề của người mua. Tiền (tiền Việt Nam đồng) được người chơi quy đổi thành "điểm" khi mua số lô đề. Khi trúng thưởng sẽ được quy đối ngược lại thành tiền, nếu thua sẽ bị mất số tiền mua số lô, số đề ban đầu.

Số đề khi nhắn tin được ký hiệu là "Đề", là số có 2 chữ số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tùy ý lựa chọn. Mỗi điểm đề có giá trị 800 đồng, được đổi chiếu với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút cùng ngày, 01 điểm đề khi trúng được trả thưởng70.000đ. Số lô được ký hiệu là "Lô" là số có 2 chữ số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tùy ý lựa chọn. Mỗi điểm lô có giá 22.000₫ được đối chiếu với 02 số cuối của tất cả các giải kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, 01 điểm lô khi trúng được trả thưởng 80.000đ. Nếu kết quả các số lô từ hai lượt trở lên thì số tiền thưởng được nhân lên tương ứng.

Lô xiên khi nhắn tin được ký hiệu là "xin", là các số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tự ý lựa chọn. Xiên 2 gồm 2 số lô khác nhau, xiên 3 gồm 3 số lộ khác nhau, xiên 4 gồm 4 số lô khác nhau, nếu các số đã mua bán trùng với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, 01 điểm xiên 2 nếu trúng được 120.000₫, 01 điểm xiên 3 nếu trúng được 450.000₫ và 01 điểm xiên 4 nếu trúng được 1.500.000₫.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C2 tiến hành phục hồi, trích xuất tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trong điện thoại di động của Lê Quang T và Nguyễn Hữu K. Tại bản Kết luận giám định số 4480/KL-KTHS ngày 26/6/2024, của V - Bộ C2, kết luận: tìm thấy 4397 nhật ký cuộc gọi, 363 tin nhắn SMS, 439 tin nhắn Facebook Messenger, 293 tin nhắn Viber, 5827 tin nhắn Zalo. Chi tiết thể hiện trong thư mục "A1" lưu trữ trong đĩa DVD kèm theo (dữ liệu trong điện thoại của Lê Quang T).

Tại bản Kết luận giám định số 4481/KL-KTHS ngày 26/6/2024, của V - Bộ C2, kết luận: tìm thấy 1408 nhật ký cuộc gọi, 03 tin nhắn SMS, 121 tin nhắn Facebook Messenger, 4735 tin nhắn Zalo. Chi tiết thể hiện trong thư mục "Al" lưu trữ trong đĩa DVD kèm theo (là dữ liệu trong điện thoại của Nguyễn Hữu K).

Quá trình mở đĩa DVD, trích xuất dữ liệu đã phục hồi, xác định ngoài các dữ liệu trong các ngày đã nêu, không thu được các tài liệu khác phản ánh hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề nào khác của Lê Quang T với Nguyễn Hữu K và với người khác.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệuIphone 7, màu đen, có số IMEI 1: 355837081991222, lắp sim số 0569.626.605, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Quang T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xám, có số IMEI 1: 350408488223117, lắp sim số 0382.671.369, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Hữu K, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, đề xử lý theo quy định.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng và kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T.

Cáo trạng số 239/CT-VKSTPTH ngày 25/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Quang T, Nguyễn Hữu K về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của BLHS đề nghị xử phạt Lê Quang T từ 48 đến 54 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu K từ 42 đến 48 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước từ Lê Quang T số tiền 100.600.000₫ là số tiền đánh bạc K đã trả cho T, truy thu từ Nguyễn Hữu K số tiền 48.000.000₫ là tiền trúng thưởng T đã trả cho K; Tich thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động của Lê Quang T và Nguyễn Hữu K. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ TNHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
  2. Các căn cứ định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng HĐXX đủ căn cứ kết luận:

    Trong ngày 22/7/2023 và trong khoảng thời gian từ ngày 11/3/2024 đến ngày 19/3/2024, Lê Quang T đã có hành vi đánh bạc với Nguyễn Hữu K, bằng hình thức bán số lô, số đề 05 lần, với tổng số tiền là 148.600.000 đồng. Trong đó, có một lần vào ngày 11/3/2024, số tiền đánh bạc là 60.600.000 đồng (trên 50.000.000 đồng).

    Như vậy, hành vi của các bị cáo Lê Quang T và Nguyễn Hữu K đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của BLHS, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. Tính chất vụ án: Là vụ án có nhiều bị cáo tham gia đánh, đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số lô, số đề qua sử dụng điện thoại di động và có tính chất sát phạt nhau được thua bằng tiền nhằm thu lời bất chính. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và mang tính phòng ngừa chung.
  4. Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, các bị cáo là người mua bán số lô, số đề với nhau với tổng số tiền là 148.600.000đ, bị cáo T là người bán số lô, đề, bị cáo K là người mua số lô, đề nên khi quyết định hình phạt thì bị cáo T cao hơn bị cáo K là phù hợp.
  5. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của từng bị cáo:

    Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đầu thú về hành vi phạm tội nên được áp dụng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Nguyễn Hữu K có bố tham gia khánh chiến, là thương binh hạng A, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, con trai bị bại não từ nhỏ, bố đẻ bị đột quỵ không đi lại được. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Tình tiết tăng nặng: Lê Quang T và Nguyễn Hữu K nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc, mỗi lần số tiền đều trên 5.000.000 đồng. Lê Quang T có 01 tiền án về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích; Nguyễn Hữu K có 01 tiền án về tội "Lưu hành tiền giả", chưa được xóa án tích. Trong bản án này các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm và phạm tội 02 lần trở lên, các tình tiết tăng nặng áp dụng cho các bị cáo quy định tại điểm g, h Khoản 1 Điều 52 BLHS.

    Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.

  6. Về biện pháp tư pháp: Đối với khoản tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần áp dụng Điều 47 của BLHS để truy thu tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước. Các bị cáo đã thanh toán cho nhau do vậy cần tịch thu của từng bị cáo theo số tiền đã đánh bạc với nhau, cụ thể: Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước từ Lê Quang T số tiền 100.600.000đ là số tiền đánh bạc K đã trả cho T, truy thu từ Nguyễn Hữu K số tiền 48.000.000₫ là tiền trúng thưởng T đã trả cho K.
  7. Về hình phạt bổ sung: Động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo là sát phạt và tước đoạt tiền của nhau, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.
  8. Về xử lý vật chứng: Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo T và K là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  9. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Quang T và Nguyễn Hữu K phạm tội “Đánh bạc".

Xử phạt:

  1. Bị cáo Lê Quang T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.
  2. Bị cáo Nguyễn Hữu K 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2024.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền các bị cáo Lê Quang T, Nguyễn Hữu K mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Khoản tiền phạt trên các bị cáo phải nộp một lần kể từ sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước từ Lê Quang T số tiền 100.600.000₫ là số tiền đánh bạc K đã trả cho T, truy thu từ Nguyễn Hữu K số tiền 48.000.000đ là tiền trúng thưởng T đã trả cho K.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệuIphone 7, màu đen, có số IMEI 1: 355837081991222, lắp sim số 0569.626.605, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Quang T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xám, có số IMEI 1: 350408488223117, lắp sim số 0382.671.369, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Hữu K.

Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 189/2024/THA ngày 25/7/2024.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Quang T và Nguyễn Hữu K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, nếu các bị cáo không thi hành các khoản tiền phải thi hành thì các bị cáo phải chịu lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 289/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 289/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger