Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 289/2023/DS-PT

Ngày: 14-8-2023

V/v Tranh chấp hợp đồng

chuyển đổi quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hồng Vân

Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Thuý – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 tháng 7 năm 2023 và ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 281/2022/TLPT-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2023, Thông báo mở lại phiên toà xét xử phúc thẩm ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1955; đại chỉ: Ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: ấp K, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh - Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Luật sư của Công ty TNHH MTV T1- thuộc đoàn Luật sư Thành phố H - Có mặt.

Bị đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1963; nơi cư trú: Ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh - Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Vương Sơn H1 - Luật sư của Công ty TNHH S3- thuộc đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh - Có mặt.

Người kháng cáo: Bà Lê Thị S

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30-7-2019 và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Vào năm 1996 bà và bà Lê Thị S là bạn bè quen biết với nhau từ quê ở Vĩnh Long lên Tây Ninh lập nghiệp nên có hùn vốn với nhau mua nhiều phần đất (diện tích khoảng 10 ha) tại ấp G, xã B, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh để trồng cao su.

Sau khi mua bà đứng tên diện tích 43.767 m² đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể sau:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U845766, ngày 15-4-2002 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 6.539 m², thửa đất số 206, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 515341, ngày 16-9-2005 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 3.088 m², thửa đất số 497, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 977062, ngày 03-4-2001 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 34.140 m², gồm các thửa đất số 41, 42, 43, 45, tờ bản đồ số 09, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Bà Lê Thị S đứng tên diện tích 43.761 m² đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN 01716 QSDĐ/540/TT-ĐC, ngày 20-12-2000 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 29.625 m², gồm các thửa đất số 201, 202, 203, 207, 44, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN 01430 QSDĐ/966/2000QĐ-UB (TX), ngày 20-12-2000 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 4.250 m², thửa đất số 0211, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN H 00512/BM, ngày 16-9-2005 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 500 m², thửa đất số 496, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN 01566 QSDĐ/450/2001/QĐ-UB, ngày 10-8-2001 do UBND thị xã T (nay là thành phố T) cấp, diện tích 9.386 m², thửa đất số 0208, tờ bản đồ số 08, đất tọa lạc tại ấp G, xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Hai bên dùng để sử dụng chung, đến năm 2010 phát sinh tranh chấp, UBND xã B đã hòa giải ngày 01-4-2010 nhưng không thành, xác định cây cao su trên đất của ai thì người đó được quyền sử dụng và không tranh chấp; năm 2015 bà S thanh lý cây cao su thì phát sinh tranh chấp về lối đi, ngày 29-6-2015 UBND xã B hòa giải thành hai bên vận chuyển cây cao su ra ngoài và thống nhất chuyển đổi

3

các thửa đất theo đúng vị trí hiện trạng đang sử dụng nhưng sau đó bà S không thực hiện; năm 2019 bà tiếp tục yêu cầu bà S thực hiện theo biên bản năm 2015 và yêu cầu chuyển đổi quyền sử dụng đất theo đúng vị trí đất thực tế hai bên đã thỏa thuận tại biên bản ngày 29-6-2015 cụ thể như sau:

Đất của bà đang sử dụng gồm các thửa cần chuyển đổi cho bà S: Thửa 45 diện tích 2.433 m², một phần thửa 42, một phần thửa 497 và một phần thửa 206; tổng diện tích là 11.300 m²; còn việc chừa đường đi nội bộ 6 m bà đã làm đúng chờ đóng trụ và xác minh.

Đất của bà S đang sử dụng gồm các thửa cần chuyển đổi cho bà là: Thửa 201 diện tích 3.968 m², thửa 202 diện tích 1.307 m², thửa 203 diện tích 5.162 m²; tổng diện tích là 10.437 m²; đất yêu cầu chuyển đổi trị giá là 1.000.000.000 đồng; yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà S thực hiện nghĩa vụ việc chuyển đổi quyền sử dụng đất diện tích 10.437 m² gồm các thửa 201, 202, 203 theo đúng hiện trạng đang sử dụng đất.

Ngày 14-01-2022 bà H có đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện: Do sau khi có kết quả đo đạc diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng đất thực tế, thì diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thay đổi. Buộc bà S thực hiện nghĩa vụ chuyển đổi quyền sử dụng đất diện tích 9.845 m², gồm các thửa:

  • Thửa 201, tờ bản đồ số 8, diện tích 3.520 m² nằm trong diện tích được cấp 3.968 m², đo đạc thực tế là 3.520 m².
  • Thửa 202, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.217 m² nằm trong diện tích được cấp 1.3078 m², đo đạc thực tế là 1.217 m².
  • Thửa 203, tờ bản đồ số 8, diện tích 5.108 m² nằm trong diện tích được cấp 5.162 m², đo đạc thực tế là 5.108 m².

Các thửa trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01430 QSDĐ/966/2000QĐ-UB (TX) cấp ngày 20-12-2000 do bà Lê Thị S đứng tên; bà đồng ý thực hiện nghĩa vụ chuyển đổi quyền sử dụng đất của bà cho bà S diện tích 12.493,6 m² gồm các thửa:

  • Một phần thửa 497, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.617,7 m² nằm trong diện tích được cấp 3.088 m², đo đạc thực tế là 3.513 m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H00513/BM cấp ngày 16-9-2005 do Nguyễn Thị H đứng tên.
  • Một phần thửa 206, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.402,8 m² nằm trong diện tích được cấp 6.539 m², đo đạc thực tế là 7.229,8 m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01717QSDĐ/541/TT-ĐC cấp ngày 15-4-2002 do Nguyễn Thị H đứng tên.
  • Một phần thửa 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 7.387,6 m² nằm trong diện tích được cấp 27.780 m², đo đạc thực tế là 29.620,8 m².
  • Thửa 45, tờ bản đồ số 9, diện tích 2.092,5 m² nằm trong diện tích được cấp 2.433 m², đo đạc thực tế là 2.092,5 m²;

4

Thửa 42 và 45 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 01595QSDĐ/132/QĐ-UB(TX) cấp ngày 03-4-2001 do Nguyễn Thị H đứng tên.

Vì vậy bà thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà S chuyển đổi diện tích 9.845 m² gồm các thửa: 201, 202, 203 tờ bản đồ số 8; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà S đứng tên; đồng ý chuyển đổi cho bà S 12.493,6 m² gồm các thửa: 497, một phần thửa 206, một phần thửa 42 và thửa 45; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà đứng tên;

- Bị đơn bà Lê Thị S trình bày:

Năm 1996 bà và bà Nguyễn Thị H từ Vĩnh Long lên Tây Ninh rủ nhau mua đất, mỗi người mua tương đương 5 mẩu đất liền kề, tiền mua đất của ai người đó trả và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người đó; vì là chị em thân thiết đến xứ người lập nghiệp nên lúc đầu cả hai thống nhất trồng cây cao su cùng hưởng thành quả từ nhựa cao su.

Diện tích đất bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cụ thể sau:

  • Phần đất diện tích 29.625 m² thuộc thửa số 201, 202, 203 và 207, tờ bản đồ số 8 và thửa số 44 tờ bản đồ số 9 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 751820 do UBND thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh cấp ngày 29-12-2000.
  • Phần đất diện tích 9.386 m² thuộc thửa số 208, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 977016 do UBND thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh cấp ngày 10-8-2001.
  • Phần đất diện tích 4.250 m² thuộc thửa số 211, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 845765 do UBND thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh cấp ngày 15-4-2002.
  • Phần đất diện tích 500 m² thuộc thửa số 496, tờ bản đồ số 8 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 515340 do UBND thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16-9-2005.

Đến năm 2009 do bất đồng quan điểm trong việc khai thác mủ cao su, bà có đề nghị bà H tách ra đất ai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khai thác mủ cao su trên đất đó; từ việc yêu cầu tách ra nên bà H nhiều lần gửi đơn khiếu kiện bà tại UBND xã B; tại xã đã nhiều lần hòa giải nhưng bà không đồng ý đổi đất. Đến năm 2015 bà có ý định đổi đất với điều kiện là bà H phải chừa đường đi ra 06 m cho bà, nhưng bà H không thực hiện như lời hứa mà liên tục gây trở ngại cho bà trong việc vận chuyển cây cao su thanh lý và bà H trồng thêm cây cao su lấn chiếm đường làm trái với biên bản hòa giải.

Tháng 7-2019 bà H yêu cầu xã thực hiện biên bản hòa giải năm 2015 về việc đổi đất bà không đồng ý; bởi do bà H cố tình gây trở ngại cho bà nhiều lần, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ai đứng tên thì người đó được quyền sử dụng, phần đất do bà đứng tên mà bà H đang sử dụng thì phải trả lại cho bà, ngược lại bà sẽ trả lại cho bà H phần đất do bà H đứng tên mà bà đang sử dụng.

5

Trường hợp bà H vẫn muốn đổi đất cho liền lạc thì bà đồng ý đổi, nhưng yêu cầu được nhận phần đất mà hiện nay bà H đang quản lý gồm các thửa số 201, 202, 203 (giấy CNQSDĐ do bà đứng tên), thửa 41, 43, một phần thửa 42 (giấy CNQSDĐ do bà H đứng tên), thửa 496, 211 (giấy CNQSDĐ do bà đứng tên) một phần thửa 206, một phần thửa 497 (giấy CNQSDĐ do bà H đứng tên) bà đang sử dụng; ngược lại bà H sẽ nhận phần đất bà đang sử dụng thửa số 207, 208, 44 (giấy CNQSDĐ do bà đứng tên) thửa 45, một phần thửa 42 (giấy CNQSDĐ do bà H đứng tên) và bà H tiếp tục sử dụng một phần thửa 206, một phần thửa 497 (giấy CNQSDĐ do bà H đứng tên) bà sẽ cho bà H đi lại hoặc vận chuyển hàng hóa đoạn đường ngang 6 mét dài khoảng 147 mét từ vị trí đất của bà H ra đường xe bò và bà H phải chịu mọi chi phí khi làm thủ tục chuyển đổi; cây cao su trên đất của ai thì người đó được quyền sử dụng vì đất do hai bên quản lý tương đối bằng nhau.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ Điều 500 của Bộ luật dân sự; Điều 167; Điều 169 của Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Lê Thị S. Giữ nguyên hiện trạng đất do hai bên bà Nguyễn Thị H và bà Lê Thị S đang quản lý sử dụng; hai bên được quyền đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo đề ngày 22 tháng 8 năm 2022 của bà Nguyễn Thị S1 với nội dung Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không mở con đường như thoả thuận và thanh toán giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch. Bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh giải quyết: Sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh.

  • Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
  • Về nội dung: Xét thấy các đương sự đã tự thoả thuận với nhau về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất từ năm 2009, các bên quản lý khai thác cao su ổn định đến năm 2015 các bên thanh lý cây cao su và tiếp tục trồng lại cây cao su mới trên phần đất mà các bên đã thoả thuận chuyển đổi. Tuy các đương sự không lập thành văn bản, công chứng chứng thực nhưng thực tế đã sử dụng ổn định lâu dài,

6

chứng minh việc các đương sự có thoả thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất với nhau. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nhưng tuyên không rõ ràng nên cần điều chỉnh lại cách tuyên.

Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuy nhiên có điều chỉnh cách tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm ngày 19-8-2022; ngày 22-8-2022 bà Lê Thị S có đơn kháng cáo; có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Xét thấy việc kháng cáo là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo thấy rằng:

Căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế lại theo yêu cầu của bà H, thể hiện phần đất hiện trạng hai bên quản lý thực tế như sau:

- Phần đất do bà S đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà H là người trực tiếp quản lý sử dụng gồm:

  • Thửa 201, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 3.520 m², đo đạc thực tế là 3.519,9 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 22 – 15,53 mét + 4,70 mét; tây nam giáp đường xe chừa rộng 06 mét – 77,44 mét; nam giáp thửa 203 – (60,18m – 06m) = 44,18 mét; bắc giáp đường xe đất – (17,11m – 06m) = 11,11 mét + 84,96 mét.
  • Thửa 202, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 1.3078 m², đo đạc thực tế là 1.333,5 m². Có tứ cận: Đông giáp đường đất – 8,29 mét + 12,65 mét + 40,26 mét; tây nam giáp đường đất – 79,49 mét; bắc giáp đường đất – 30,33 mét + 6,94 mét.
  • Thửa 203, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 5.108 m², đo đạc thực tế là 5.292,6 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 22 – 24,07 mét + 23 mét; tây giáp thửa 497 – 80,7 mét; nam giáp thửa 42 – 16,33 mét + 81,20 mét; bắc giáp thửa 201 – 60,18 mét + giáp thửa 200 – 4,83 mét.
  • Một phần thửa 207, tờ bản đồ số 8, diện tích đo đạc thực tế là 434,9m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 42 – 37,26 mét; tây nam giáp phần còn lại của thửa 207 – 41,27 mét; bắc giáp thửa 47 – 23,56 mét.

- Phần đất do bà H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng bà S là người trực tiếp quản lý sử dụng, gồm:

  • Một phần thửa 497, tờ bản đồ số 8, diện tích đo đạc thực tế 1.684,1 m² nằm trong diện tích được cấp 3.088 m². Có tứ cận: Đông giáp phần đất còn lại của thửa 497 – 56,68 mét + 10,93 mét; tây giáp thửa 496 – 51,99 mét; nam giáp thửa

7

  • 206 – 11,08 mét, giáp thửa 207 – 33,09 mét; bắc giáp thửa 200 – 8,43 mét+ 9,08 mét + 7,29 mét, giáp phần còn lại thửa 497 – 11,83 mét.
  • Một phần thửa 206, tờ bản đồ số 8, diện tích 385,5 m² nằm trong diện tích được cấp 6.539 m²(hướng giáp thửa 207). Có tứ cận: Đông giáp thửa 027 – 29,28 mét; tây nam giáp phần còn lại thửa 206 – 30,97 mét; tây bắc giáp thửa 496 – 10,34 mét, thửa 497 – 11,08 mét.
  • Một phần thửa 206, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.384,8 m² nằm trong diện tích được cấp 6.539 m²(hướng giáp thửa 211). Có tứ cận: Đông giáp phần còn lại thửa 206 – 69,29 mét; tây giáp thửa 197- 19,11 mét; tây nam giáp thửa 211 – 48,05 mét; bắc giáp phần còn lại thửa 206 – 6,13 mét, giáp thừa 205 – 17,73 mét + 14,46 mét.
  • Một phần thửa 42, tờ bản đồ số 9, diện tích đo đạc thực tế là 7.811 m² nằm trong diện tích được cấp 27.780 m². Có tứ cận: Đông giáp phần còn lại thửa 42 – 206,82 mét; tây nam giáp thửa 44 – 102,97 mét, thửa 208 – 15,83 mét; nam giáp thửa 45 – 29,44 mét; tây bắc giáp thửa 208 – 8,79 mét, thửa 207 – 97,48 mét.
  • Thửa 45, tờ bản đồ số 9, diện tích đo đạc thực tế là 2.317,8 m² nằm trong diện tích được cấp 2.433 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 95 – 11,21 mét; tây giáp thửa 44 – 79,90 mét; nam giáp thửa 71 – 27,33 mét; bắc giáp thửa 42 – 29,44 mét.

Quá trình giải quyết vụ án bà H yêu cầu bà Lê Thị S chuyển đổi các thửa: 201, 202, 203 tờ bản đồ số 8; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà S đứng tên. Bà đồng ý chuyển đổi cho bà S một phần thửa 497, một phần thửa 206, một phần thửa 42 và trọn thửa 45; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà đứng tên.

S không đồng ý và cho rằng năm 2009 do bất đồng quan điểm trong việc khai thác, bà có đề nghị bà H tách ra đất ai đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khai thác nhựa cao su trên đất đó; từ việc bà yêu cầu tách ra nên bà H nhiều lần gởi đơn khiếu kiện bà tại UBND xã B và đã hòa giải nhưng không thành; năm 2015 bà có ý định đổi đất với điều kiện là bà H phải chừa đường đi 06 mét, nhưng bà H không thực hiện, liên tục gây trở ngại cho bà trong việc vận chuyển cây cao su thanh lý và bà H trồng thêm cây cao su lấn chiếm đường làm trái với biên bản hòa giải. Tháng 7-2019 bà H yêu cầu xã thực hiện biên bản hòa giải năm 2015 về việc đổi đất bà không đồng ý; đất do ai đứng tên thì người đó được quyền sử dụng, phần đất do bà đứng tên mà bà H đang sử dụng thì phải trả lại cho bà, ngược lại bà sẽ trả lại cho bà H phần đất do bà H đứng tên mà bà đang sử dụng.

Trường hợp bà H muốn đổi đất cho liền thì bà cũng đồng ý, nhưng yêu cầu được nhận phần đất mà hiện nay bà H đang quản lý sử dụng; ngược lại bà H sẽ nhận phần đất bà đang quản lý sử dụng, bà sẽ cho bà H đi lại hoặc vận chuyển hàng hóa đoạn đường ngang 6 mét dài khoảng 147 m từ vị trí đất của bà H ra đường xe bò và bà H phải chịu mọi chi phí khi làm thủ tục chuyển đổi; cây cao su trên đất của ai thì người đó được quyền sử dụng vì đất do hai bên quản lý tương đối bằng nhau.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

8

Sau khi các đương sự tự phân ranh quản lý khai thác mủ cao su, thì vào năm 2010 các đương sự có nhờ chính quyền địa phương hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Sự việc kéo dài đến năm 2015, tại biên bản hòa giải ngày 04-9-2015 (BL số 19) có nội dung:

“...-Bà Lê Thị S: Vườn cao su trước đây đã có biên bản hòa giải nay tôi yêu cầu chừa đường đi cho tôi trên vườn cao su lớn phía trong của bà H 6 m, phần thổ cư mặt đường Giồng Cà ngang 15 m trước đây tôi và bà H đã có thỏa thuận chia đôi mỗi người 7,50 m, tôi lấy phần giáp ông K từ mặt đường G thẳng xuống đất mua của ông B và 01 công đất mua của ông H2, bà H lấy phần giáp ông T ngang mặt tiền đường G 7,50 m thẳng xuống phần mua của ông B”

- Tại biên bản ngày 24-7-2019 UBND xã B có nội dung:

“...- Bà Lê Thị S: Bà H không thực hiện theo biên bản về việc chừa đường đi (trồng cây cao su lấn đường 6 m do hai bên thỏa thuận chừa) không đồng ý trao đổi đất như trước nữa mà căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai đứng tên thì người đó sử dụng.

- Bà Nguyễn Thị H: Trước đây hai bên đã thống nhất và bà đã đề nghị địa chính thành phố đo đạc, trích lục bản vẽ, bà đề nghị tiếp tục thực hiện thủ tục tách đất.

Tất cả các biên bản hòa giải thể hiện có lúc thì đồng ý đổi theo hiện trạng mà các bên đã tự phân ranh, có lúc thì không đồng ý. Tuy nhiên về nội dung thoả thuận chuyển đổi đất thì các bên thống nhất, nhưng chưa thống nhất cách thực hiện nên sự việc kéo dài đến khi tranh chấp ra Toà án.

Việc đổi đất của các đương sự trình bày, tuy không được lập thành văn bản, có công chứng chứng thực theo quy định của pháp luật. Nhưng thực tế các đương sự đã tự phân ranh, bàn giao đất để quản lý khai thác mủ cao su từ nằm 2009 đến năm 2015. Khi các bên thanh lý cây cao su, thì các đương sự lại tiếp tục trồng lại cây cao su mới trên các phần đất mà các đương sự đã thoả thuận chuyển đổi trước đó. Điều này chứng minh các đương sự thực sự có việc thoả thuận chuyển đổi quyền sử dụng đất với nhau.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ. Tuy nhiên tuyên giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất thực tế của hai bên là không rõ ràng, khó thi hành án. Mặt khác giá trị quyền sử dụng đất của hai bên đương sự có sự chênh lệch nhưng Toà án cấp sơ thẩm không buộc thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Tại phiên toà phúc thẩm bà H đồng ý thanh toán giá trị chênh lệch cho bà S để tiếp tục sử dụng các thửa đất 201, 202, 203 của bà S đứng giấy. Vì vậy cần được tính như sau:

Phần đất tại các thửa 201, 202, 203 của bà S đứng giấy, đo đạc thực tế là 9.698,4m² (CLN) x 346.746 đồng/m² = 3.362.881.400 đồng; 01 phần thửa 207, đo thực tế là 434,9m² (CLN) x 217.272 đồng/m²= 94.491.600 đồng. Tổng giá trị là 3.457.373.000 đồng.

Phần đất tại thửa 45; 01 phần thửa 42; 01 phần thửa 206; 01 phần thửa 497

9

của bà H đứng giấy, tổng diện tích đo thực tế là 13.582,9m². Trong đó đất (CLN) là 10.128,8m² x 217.272 đồng/m² = 2.200.704.600 đồng; đất (HNK) là 3.454,1m² x 211.272 đồng/m² = 729.754.600 đồng. Tổng giá trị là 2.930.459.200 đồng.

Chênh lệch giá trị của 02 phần đất là 526.913.800 đồng. Bà H có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch cho bà S là 526.913.800 đồng.

Ngoài ra bà H đồng ý mở con đường rộng 06 mét từ đừng xe đất hướng bắc thửa đất 201 đi qua thửa 201 và kéo dài đến thửa 203 rẽ vào thửa 497 đến giáp phần đất bà H giao cho bà S sử dụng tại thửa 497.

Đối với cây cao su trên đất, hiện các đương sự trồng cùng thời điểm và chưa khai thác, nên không có sự chênh lệch giá trị và hai bên không có tranh chấp. Vì vậy cây cao su trên đất của ai thì người đó được quyền sở hữu và khai thác.

[3] Chi phí tố tụng: Tại cấp phúc thẩm bà H có yêu cầu thẩm định, đo đạc lại phần đất tranh chấp và tự nguyện chịu chi phí, nên bà Nguyễn Thị H phải chịu theo chi phí tố tụng là 50.000.000 đồng (đã nộp xong).

Do đó chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị S; chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sửa bản án sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về án phí:

[4.1] Án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyễn Thị H là người cao tuổi, được miễn án phí dân sự sơ thẩm

Lê Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4.2] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, bà S không phải chịu phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Sậm

Sửa bản án sơ thẩm số 91/2022/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 500 của Bộ luật dân sự; Điều 97, 166, 167; Điều 170 của Luật Đất đai; Điều 12, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với bà Lê Thị S về chuyển đổi quyền sử dụng đất.

Công nhận hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H đối với bà Lê Thị S là hợp pháp.

10

1.1. Bà Lê Thị S có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H như sau:

  • Thửa 201, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 3.520 m², đo đạc thực tế là 3.519,9 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 22 – 15,53 mét + 4,70 mét; tây nam giáp đường xe chừa rộng 06 mét – 77,44 mét; nam giáp thửa 203 – (60,18m – 06m) = 44,18 mét; bắc giáp đường xe đất – (17,11m – 06m) = 11,11 mét + 84,96 mét.
  • Thửa 202, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 1.3078 m², đo đạc thực tế là 1.333,5 m². Có tứ cận: Đông giáp đường đất – 8,29 mét + 12,65 mét + 40,26 mét; tây nam giáp đường đất – 79,49 mét; bắc giáp đường đất – 30,33 mét + 6,94 mét.
  • Thửa 203, tờ bản đồ số 8, diện tích được cấp giấy là 5.108 m², đo đạc thực tế là 5.292,6 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 22 – 24,07 mét + 23 mét; tây giáp thửa 497 – 80,7 mét; nam giáp thửa 42 – 16,33 mét + 81,20 mét; bắc giáp thửa 201 – 60,18 mét + giáp thửa 200 – 4,83 mét.
  • Một phần thửa 207, tờ bản đồ số 8, diện tích đo đạc thực tế là 434,9m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 42 – 37,26 mét; tây nam giáp phần còn lại của thửa 207 – 41,27 mét; bắc giáp thửa 47 – 23,56 mét.

1.2. Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị S như sau:

  • Một phần thửa 497, tờ bản đồ số 8, diện tích đo đạc thực tế 1.684,1 m² nằm trong diện tích được cấp 3.088 m². Có tứ cận: Đông giáp phần đất còn lại của thửa 497 – 56,68 mét + 10,93 mét; tây giáp thửa 496 – 51,99 mét; nam giáp thửa 206 – 11,08 mét, giáp thửa 207 – 33,09 mét; bắc giáp thửa 200 – 8,43 mét+ 9,08 mét + 7,29 mét, giáp phần còn lại thửa 497 – 11,83 mét.
  • Một phần thửa 206, tờ bản đồ số 8, diện tích 385,5 m² nằm trong diện tích được cấp 6.539 m²(hướng giáp thửa 207). Có tứ cận: Đông giáp thửa 027 – 29,28 mét; tây nam giáp phần còn lại thửa 206 – 30,97 mét; tây bắc giáp thửa 496 – 10,34 mét, thửa 497 – 11,08 mét.
  • Một phần thửa 206, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.384,8 m² nằm trong diện tích được cấp 6.539 m²(hướng giáp thửa 211). Có tứ cận: Đông giáp phần còn lại thửa 206 – 69,29 mét; tây giáp thửa 197- 19,11 mét; tây nam giáp thửa 211 – 48,05 mét; bắc giáp phần còn lại thửa 206 – 6,13 mét, giáp thừa 205 – 17,73 mét + 14,46 mét.
  • Một phần thửa 42, tờ bản đồ số 9, diện tích đo đạc thực tế là 7.811 m² nằm trong diện tích được cấp 27.780 m². Có tứ cận: Đông giáp phần còn lại thửa 42 – 206,82 mét; tây nam giáp thửa 44 – 102,97 mét, thửa 208 – 15,83 mét; nam giáp thửa 45 – 29,44 mét; tây bắc giáp thửa 208 – 8,79 mét, thửa 207 – 97,48 mét.
  • Thửa 45, tờ bản đồ số 9, diện tích đo đạc thực tế là 2.317,8 m² nằm trong diện tích được cấp 2.433 m². Có tứ cận: Đông giáp thửa 95 – 11,21 mét; tây giáp thửa 44 – 79,90 mét; nam giáp thửa 71 – 27,33 mét; bắc giáp thửa 42 – 29,44 mét.

11

Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch cho bà Lê Thị S là 526.913.800 (Năm trăm hai mươi sáu triệu chín trăm mười ba nghìn tám trăm) đồng.

H có nghĩa vụ mở con đường rộng 06 mét từ đường xe đất hướng bắc thửa đất 201 đi qua thửa 201 và kéo dài đến thửa 203 rẽ vào thửa 497 đến giáp phần đất bà H giao cho bà S sử dụng tại thửa 497. Cụ thể như sau: Đông giáp thửa 201 – 78,25 mét, giáp thửa 203 – 10,85 mét; tây giáp thửa đất 200 theo hiện trạng – 77,44 mét + 5.09 mét, giáp phần thửa 497 (Giao bà S sử dụng) – 06 mét; nam giáp thửa 203 - 12,33 mét, thửa 497 – 7,12 mét + 12,15 mét + 6,38 mét + 8,87 mét; bắc giáp đường xe đất – 06 mét, giáp thửa 200 theo hiện trạng – 4.83 mét + 6,84 mét + 12,09 mét + 6,78 mét + 8,98 mét.

Các đương sự được quyền sở hữu và khai thác cây cao su trên phần đất được chuyển đổi.

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án này.

(Kèm theo sơ đồ hiện trạng)

2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 186.000.000 đồng tiền chi phí đo đạc và thẩm định giá (Đã nộp xong).

Lê Thị S phải chịu 33.000.000 đồng tiền thẩm định giá (Đã nộp xong).

3. Về án phí dân sự:

3.1. Án phí sơ thẩm:

Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

Lê Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

3.2. Án phí phúc thẩm:

Lê Thị S không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Lê Thị S 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu số: 0001289 ngày 24-8-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

12

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.TTN;
  • - TAND. TPTN;
  • - Chi cục THADS. TpTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án DSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 289/2023/DS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 289/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger