Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 289/2025/DS-PT

Ngày: 30/5/2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay mượn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Ông Nguyễn Phú Thọ.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp:

Ông Huỳnh Hữu Nghi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 141/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay mượn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS - ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 285/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Huỳnh Thị T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Chị Huỳnh Thị T là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Nguyễn Thị D trình bày:

Chị D với chị Huỳnh Thị T là chỗ quen biết do là bạn bè chơi chung với nhau từ lâu đến nay. Vào ngày 05/06/2022, chị Huỳnh Thị T mượn của chị D số tiền 112.000.000 đồng (Một trăm mười hai triệu đồng) để giải quyết khó khăn trong gia đình. Chị T hứa với chị D mỗi tháng sẽ góp trả cho chị D số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến khi góp hết số nợ nêu trên cho chị. Chị D đã tin tưởng giao tiền cho chị T mượn, nhưng sau đó, chị T lấy nhiều lý do không góp trả tiền cho chị D như lời hứa. Thời gian sau, chị T có tham gia góp tiền vào mấy dây hụi do chị D làm đầu thảo, đã trừ nợ tiền gốc cho chị T tổng cộng được 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Như vậy đến nay, chị T còn nợ chị D số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng). Chị D nhiều lần yêu cầu chị T trả tiền cho chị, nhưng chị T lớn tiếng xua đuổi và thách thức chị D báo Công an, chị T đã có ý đồ chiếm đoạt số tiền 48.000.000 đồng của chị D.

Nay chị D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Huỳnh Thị T phải trả cho chị D số tiền đã mượn là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng). Chị D không yêu cầu tính lãi đến khi Tòa án giải quyết xong vụ kiện.

Bị đơn chị Huỳnh Thị T trình bày:

Theo thông báo thụ lý vụ án số 878/TB-TLVA ngày 04/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười về việc nguyên đơn Nguyễn Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu chị T trả tiền nợ hụi là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng), chị T không đồng ý với một phần yêu cầu của chị Nguyễn Thị D. Lý do là chị T có tham gia nhiều dây hụi do chị D làm đầu thảo vào năm 2020, 2021. Sau đó các dây hụi đã mãn, do kinh tế lúc này khó khăn nên chị T còn nợ lại tiền hụi chết là 112.000.000 đồng (Một trăm mười hai triệu đồng).

Đến năm 2022, chị D tiếp tục mở các dây hụi khác, rủ chị tham gia. Mục đích tham gia các dây hụi mới, chị D và chị thỏa thuận là chị chỉ đóng tiền hụi mà không được hốt vì chị D sẽ trừ cấn số tiền chị đóng vào số tiền hụi 112.000.000 đồng chị còn thiếu của các dây hụi trước.

Cụ thể như sau: Dây hụi 2.000.000 đồng (hụi tháng) gồm 20 phần, mở ngày 17/07/2022 (âm lịch), chị T tham gia 02 phần, đóng được 08 lần, số tiền đóng mỗi lần theo thăm người bỏ, chị D trừ cho chị số tiền là 32.000.000 đồng.

Dây hụi 2.000.000 đồng (hụi tháng) gồm 19 phần, mở ngày 29/8/2022 (âm lịch), chị tham gia 01 phần và đóng được 06 lần, số tiền đóng mỗi lần theo thăm người bỏ, chị D trừ cho chị số tiền là 12.000.000 đồng.

Dây hụi 5.000.000 đồng (2 tháng/ lần) gồm 14 phần, mở ngày 06/8/2022 (âm lịch), chị tham gia 01 phần và đóng được 04 lần, số tiền tùy theo thăm người bỏ, nhưng chị D chấp nhận trừ cho chị mỗi lần 5.000.000 đồng/ lần khui, tổng cộng đối với dây hụi này chị D trừ cho chị số tiền là 20.000.000 đồng.

Tổng cộng 03 dây hụi, chị D trừ cho chị được 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Hiện các dây hụi này đã mãn hết.

Ngày 14/03/2023, chị T và chị D tổng kết chốt lại số tiền hụi chị T còn thiếu là 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng), nhưng sau đó, chị D lại gửi đơn khởi kiện chị T và chị D không cho chị T trả dần tiền hụi còn thiếu theo thỏa thuận ban đầu. Nay chị T đồng ý trả cho chị D số tiền còn thiếu theo tỷ lệ 70% như thỏa thuận ban đầu. Cụ thể, chị T đồng ý trả 70% x 48.000.000 đồng = 33.600.000 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D.

Buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm, thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2025 chị Huỳnh Thị T kháng cáo Bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án và chấp nhận theo yêu cầu của chị Huỳnh Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Chị Huỳnh Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chị T chỉ đồng ý trả cho chị D số tiền còn thiếu theo tỷ lệ 70% như thỏa thuận lúc chơi hụi, cụ thể chị T đồng ý trả 70% x 48.000.000 đồng = 33.600.000 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Chị Nguyễn Thị D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Huỳnh Thị T; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm giải quyết vụ án nhận định:

- Về tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

- Về nội dung, chị Huỳnh Thị T thừa nhận có nợ chị Nguyễn Thị D số tiền 112.000.000 đồng và có viết biên nhận cho chị D, đã trả cho chị D số tiền 64.000.000 đồng, còn nợ lại 48.000.000 đồng. Chị T cho rằng theo thỏa thuận thì chị D đồng ý cho chị trả dần bằng cách cho chị tham gia chơi các dây hụi do chị D làm chủ, chị T đóng hụi từng lần được bao nhiêu thì tính bấy nhiêu, do vậy nếu trả như vậy thì số tiền chị phải trả cho chị D là 70% trên tổng số tiền phải trả cho chị D. Tuy nhiên, lời khai của chị T không có chứng cứ chứng minh, chị D thì không thừa nhận lời khai này. Từ đó có đủ căn cứ xác định chị T có nợ chị D 48.000.000 đồng nên chị T phải có nghĩa vụ trả cho chị D. Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị Huỳnh Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị D yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ trả cho chị D số tiền 48.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Chị T không đồng ý với yêu cầu của chị D. Ngoài ra, các đương sự không còn yêu cầu nào khác nên Toà án nhân dân huyện Tháp Mười xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay mượn” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do bị đơn là chị Huỳnh Thị T có địa chỉ cư trú tại ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên Toà án nhân dân huyện Tháp Mười giải quyết là đúng quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2025 chị Huỳnh Thị T kháng cáo Bản án sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, thủ tục, trình tự kháng cáo là phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Thị D và chị Huỳnh Thị T đều thừa nhận ngày 05/6/2022 chị T có ký biên nhận mượn chị Nguyễn Thị D số tiền 112.000.000 đồng, thỏa thuận sẽ trả hàng tháng 10.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thanh toán, chị T đã trả cho chị D số tiền 64.000.000 đồng bằng hình thức chơi hụi, số còn lại là 48.000.000 đồng chị T chưa trả cho chị D nên xảy ra tranh chấp, chị Nguyễn Thị D yêu cầu chị Huỳnh Thị T trả số tiền đã mượn là 48.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Chị D và chị T đều thừa nhận số tiền 64.000.000 đồng mà chị T đã trả thông qua việc tham gia chơi 03 dây hụi do chị D làm đầu thảo, hiện nay các dây hụi này đã mãn, số tiền nợ 48.000.000 đồng là số tiền hụi chết còn lại.

Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền 48.000.000 đồng là có căn cứ.

Chị T cho rằng chị D đã đồng ý cho chị trả dần số tiền 112.000.000 đồng bằng cách chị tham gia các các dây hụi mà chị D làm chủ, chị đóng hụi từng lần được bao nhiêu thì tính bấy nhiêu, do vậy nếu trả như vậy thì số tiền chị phải trả cho chị D là 70% trên tổng số tiền phải trả cho chị D.

Tuy nhiên, số tiền 48.000.000 đồng là tiền còn nợ lại sau khi các dây hụi đã mãn, không có chứng cứ chứng minh chị D và chị T thỏa thuận để cho chị T trả 70% của số tiền 48.000.000 đồng còn thiếu, chị D cũng không thừa nhận có thỏa thuận này. Do đó, yêu cầu kháng cáo của chị T là không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

[2] Xét thấy lời phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3] Do kháng cáo của chị Huỳnh Thị T không được chấp nhận, nên chị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Huỳnh Thị T.

    Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 25/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

  2. Căn cứ Điều 280 Bộ luật Dân sự; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, Điều 28, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên xử:

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
    2. Buộc chị Huỳnh Thị T có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị D số tiền 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng).

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    3. Về án phí:

      * Án phí dân sự sơ thẩm:

      Chị Huỳnh Thị T phải nộp 2.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

      Chị Nguyễn Thị D không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại chị D số tiền 1.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0011438 ngày 04/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tháp Mười.

      * Án phí dân sự phúc thẩm:

      Chị Huỳnh Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001290 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Chị Huỳnh Thị T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng T.tra, K.Tra, THA TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND H. Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS H. Tháp Mười;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA, TDS (Loan).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 289/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng vay mượn

  • Số bản án: 289/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay mượn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn thị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger