TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 289/2025/DS-PT Ngày: 20/8/2025 V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hà
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương
Ông Lê Văn Phận
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 7 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”, do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 18 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long) bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 166/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Kiều Thị D – Sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt)
* Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn H – Sinh năm 1968
- Bà Mai Thị Cẩm H1 – Sinh năm 1974
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Bà Mai Thị Cẩm H1 – Sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long). (Có mặt).
* Người kháng cáo: Bà Mai Thị Cẩm H1 – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 30/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Kiều Thị D trình bày:
Bà Kiều Thị D có tham gia các dây hụi do vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Mai Thị Cẩm H1 tổ chức, cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 10/02/2022 âm lịch (nhằm ngày 12/03/2022 dương lịch), loại hụi 1.000.000đ, hụi tháng (30 ngày) khui một lần, dây hụi gồm 24 hụi viên, bà D tham gia 02 phần, ghi theo tên Phương D1, góp hụi sống được 13 lần thì ngưng do chủ hụi vỡ hụi vào ngày 27/3/2023. Dây hụi này ông H và bà H1 còn nợ bà D1 25.000.000đ, đã trừ đầu thảo.
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 10/6/2022 âm lịch (nhằm ngày 08/7/2022 dương lịch), loại hụi 2.000.000đ, 30 ngày khui một lần, gồm có 15 hụi viên, tham gia 04 phần, ghi theo tên D1 và mợ 4, bà D1 đã hốt được 01 phần, góp hụi sống được 09 lần thì ngưng do chủ hụi vỡ hụi vào ngày 27/3/2023. Dây hụi này ông H và bà H1 còn nợ bà D1 57.000.000đ, đã trừ đầu thảo.
- Dây hụi thứ ba: Mở ngày 10/7/2022 âm lịch (nhằm ngày 07/8/2022 dương lịch), loại hụi 1.000.000đ, 30 ngày khui một lần, gồm có 15 hụi viên, bà D1 tham gia 02 phần ghi theo tên D1, góp hụi sống được 08 lần thì ngưng do chủ hụi vỡ hụi vào ngày 27/3/2023. Dây hụi này ông H và bà H1 còn nợ bà D1 16.000.000₫ đã trừ đầu thảo.
- Dây hụi thứ tư: Mở ngày 09/8/2021 âm lịch (nhằm ngày 15/9/2021 dương lịch), loại hụi 10.000.000 đồng, 04 tháng khui một lần, gồm có 13 hụi viên, bà D1 tham gia 02 phần ghi theo tên D1 và T, góp hụi sống được 05 lần thì ngưng do chủ hụi vỡ hụi vào ngày 27/3/2023. Dây hụi này ông H và bà H1 còn nợ bà D1 95.000.000₫ đã trừ đầu thảo.
Tổng cộng vợ chồng ông H, bà H1 nợ bà D1 số tiền 193.000.000đ. Từ lúc vỡ hụi, bà H1 có trả cho bà D1 số tiền là 3.000.000đ. Tại phiên toà sơ thẩm, bà D1 rút một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 68.070.000đ, bà D1 yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Mai Thị Cẩm H1 có nghĩa vụ trả tiền nợ là 124.930.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Mai Thị Cẩm H1 trình bày:
Bà H1 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc tham gia chơi hụi của bà D1, bà H1 đồng ý trả nợ cho bà D1 số tiền 124.930.000đ nhưng không đồng ý cùng với ông Nguyễn Văn H trả nợ, vì cho rằng ông H không liên quan gì đến việc bà H1 tổ chức các dây hụi.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông không biết việc bà H1 tổ chức các dây hụi, không tham gia các dây hụi và không biết các hụi viên nên không đồng ý cùng bà H1 trả nợ tiền hụi cho các hụi viên.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 18 tháng 04 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long) đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2024; Căn cứ Điều 18 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kiều Thị Diễm .
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Mai Thị Cẩm H1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Kiều Thị D số tiền nợ là 124.930.000đ.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 68.070.000đ, nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm, các quyền về thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
* Ngày 14/05/2025, bị đơn Mai Thị Cẩm H1 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long) theo hướng chỉ buộc bà Mai Thị Cẩm H1 có trách nhiệm trả số tiền nợ 124.930.000đ cho bà Kiều Thị D vì ông H không tham gia các dây hụi.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn Mai Thị Cẩm H1 vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Nguyên đơn Kiều Thị D không đồng ý với kháng cáo vủa nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
- + Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Mai Thị Cẩm H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Mai Thị Cẩm H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng ông có ủy quyền cho bà Mai Thị Cẩm H1 tham gia tố tụng; do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Mai Thị Cẩm H1 về việc không buộc bà và ông Nguyễn Văn H liên đới trả cho bà Kiều Thị Diễm S nợ tiền hụi là 124.930.000₫:
[2.1] Bà Mai Thị Cẩm H1 xác định bà Kiều Thị D có tham gia dây hụi do bà H1 làm chủ và hiện bà H1 còn nợ tiền hụi bà D là 124.930.000đ đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xác định. Bà H1 thống nhất số tiền nợ hụi này nên không kháng cáo; bà chỉ kháng cáo phần nghĩa vụ liên đới trả nợ.
[2.2] Bà H1 cho rằng bà làm chủ hụi; hàng tháng, bà có triệu tập các hụi viên đến nhà bà để khui hụi, ông H biết việc này và không phản đối. Bà H1 xác định ông H không liên quan đến các giao dịch hụi giữa bà và bà D nên bà yêu cầu cá nhân bà trả cho bà D số tiền nợ hụi 124.930.000đ, không đồng ý liên đới cùng ông H trả nợ hụi cho bà D vì cho rằng số tiền nợ không liên quan ông H. Tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền nợ này là nợ riêng của bà.
[2.3] Xét thấy, bà H1 và ông H là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; ông bà vẫn đang sống chung; việc quản lý tiền bạc và chi tiêu trong gia đình là do bà H1 quyết định; thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được sử dụng chung trong gia đình. Vì vậy, bản án sơ thẩm buộc ông H có trách nhiệm liên đới cùng bà H1 trả cho bà D số tiền nợ hụi 124.930.000₫ là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Cẩm H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.
[4] Về án phí:
Do không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Cẩm H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà H1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà H1 đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Vĩnh Long) theo biên lai thu số 0002005 ngày 28/05/2025.
[5] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm về đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 68.070.000đ không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Cẩm H1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 18/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Vĩnh Long).
Áp dụng Điều 471, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Căn cứ Điều 147 và Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 và Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Kiều Thị Diễm .
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Mai Thị Cẩm H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Kiều Thị D số tiền nợ hụi là 124.930.000đ (Một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Văn H và bà Mai Thị Cẩm H1 chịu 3.123.250₫ (Ba triệu một trăm hai mươi ba nghìn hai trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Kiều Thị D số tiền tạm ứng án phí 4.825.000đ (Bốn triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng) mà bà D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Vĩnh Long) theo biên lai thu số 0011659 ngày 30/10/2024.
Bà Mai Thị Cẩm H1 chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà H1 đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Vĩnh Long) theo biên lai thu số 0002005 ngày 28/05/2025.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 68.070.000đ không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Hà |
Bản án số 289/2025/DS-PT ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 289/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn Kiều Thị D tranh chấp hợp đồng góp hụi với bị đơn Nguyễn Văn H
