|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 289/2024/HSST Ngày 21/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phí Văn Chân;
Ông Nguyễn Minh Tú.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 271/2024/TLST-HS, ngày 18/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2024/QĐ-TA ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng M; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 09/8/1976 tại: Hà Nội;
Nơi thường trú: Tổ dân phố N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao đông tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Ích K; Đã chết; Họ và tên mẹ: Vương Thị T, sinh năm: 1946; Họ và tên chồng: Phùng Văn T1 (Đã ly hôn); Có 02 con (con lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2003); Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 182 do Công an quận B lập ngày 22/3/2024; Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I, Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Dương Danh H; Sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa;
- Chị Hoàng Thị H1; sinh năm 2000; Nơi thường trú: Phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016, thông qua mối quan hệ xã hội, bị cáo Nguyễn Hồng M quen biết anh Dương Danh H và tự giới thiệu là sỹ quan quân đội đang công tác tại Bộ Q. Khoảng tháng 10/2021, chị Hoàng Thị H1 là em họ của anh H có nhu cầu xin việc vào công tác tại Trung đoàn I, Trường S1 - Không quân đóng quân trên địa bàn thành phố T, tỉnh Phú Yên nên đã nhờ anh H tìm mối quan hệ có khả năng giúp chị H1 xin việc.
Ngày 10/11/2021, thông qua ứng dụng Zalo, anh H đã nhắn tin cho bị cáo M nhờ xin việc cho chị H1 vào làm tại Trung đoàn 910. Do thời điểm trên không có tiền tiêu, không có việc làm ổn định nên bị cáo M đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H. Bị cáo M đã tự giới thiệu với anh H hiện đang giữ cấp bậc Thượng tá, chức vụ Trưởng phòng Kiểm định, T3 - Bộ Q có trụ sở làm việc tại số E N, quận B, thành phố Hà Nội. Để anh H tin tưởng, bị cáo M nói có quan hệ với nhiều lãnh đạo giữ các chức vụ cao trong Quân đội.
Đến ngày 23/11/2021, bị cáo M yêu cầu anh H gửi sơ yếu lý lịch của chị Hoàng Thị H1 trước thông qua ứng dụng Zalo để đi đặt vấn đề xin chỉ tiêu cho chị H1 đồng thời cung cấp số tài khoản 0011004342549 tại Ngân hàng TMCP N (VCB) mang tên Nguyễn Hồng M yêu cầu anh H chuyển trước số tiền 10.000.000 đồng để bị cáo đi quan hệ, anh H đồng ý và đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản nêu trên. Sau khi nhận được tiền, bị cáo tiếp tục yêu cầu anh H nộp bộ hồ sơ xin việc của chị Hoàng Thị H1 (Gồm Đơn xin việc, hộ khẩu thường trú, các loại bằng cấp;...) cùng với 10.000.000 đồng để bị cáo đi nộp hồ sơ xin việc cho chị H1. Anh H báo lại để chị H1 chuẩn bị hồ sơ và tiền giao cho bị cáo. Sau khi anh H nhận được hồ sơ và tiền chị H1 gửi theo yêu cầu, bị cáo trực tiếp đến gặp anh H tại khu vực xã A, huyện H, thành phố Hà Nội nhận bộ hồ sơ cùng số tiền 10.000.000 đồng
Để tiếp tục tạo sự tin tưởng với anh H, bị cáo đã tự soạn các tin nhắn nhắn tin với các lãnh đạo của Quân chủng Phòng không – Không quân với nội dung xin cho chị H1 vào biên chế tại Trung đoàn 910 với số tiền khoảng 200.000.000 đồng, sau đó chụp lại màn hình gửi qua ứng dụng Zalo cho anh H, anh H đã trao đổi lại nội dung với chị H1 về việc xin biên chế vào Trung đoàn 910 phải chi phí hết khoảng 200.000.000 đồng, chị H1 đồng ý.
Ngày 05/12/2021, anh H đến nhà bị cáo tại địa chỉ số G, ngách E N, tổ dân phố N, phường M, quận B, Hà Nội. Tại đây, bị cáo yêu cầu anh H chuyển số tiền 150.000.000 đồng để đi gặp các lãnh đạo xin việc cho chị H1, anh H tin tưởng nên đã sử dụng số tài khoản 8820121494007 mở tại Ngân hàng TMCP Q1 (MB) chuyển 02 lần với tổng số tiền 150.000.000 đồng đến tài khoản số 0011004342549 do bị cáo cung cấp nêu trên.
Sau đó từ ngày 7/2/2022 đến ngày 27/9/2022, tiếp tục lấy lý do phải đi quan hệ với lãnh đạo Bộ Q và Trung đoàn 910 để xin việc cho chị H1, bị cáo đã yêu cầu anh H tiếp tục chuyển 08 lần với tổng số tiền là 112.000.000 đồng. Cụ thể: Ngày 7/2/2022 chuyển 5.000.000 đồng; ngày 8/3/2022 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 22/3/2022 chuyển 2.000.000 đồng; ngày 4/4/2022 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 5/4/2022 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 23/4/2022 chuyển 30.000.000 đồng; ngày 21/5/2022 chuyển 35.000.000 đồng; ngày 27/9/2022 chuyển 10.000.000 đồng. Các lần bị cáo yêu cầu chuyển tiền anh H đều báo lại với chị H1 số tiền bị cáo yêu cầu chuyển và được chị H1 đồng ý.
Cũng trong thời gian trên, bị cáo đã chủ động liên hệ với chị H1 và nói cần thêm tiền để đi lo xin việc cho chị H1. Do tin tưởng bị cáo, chị H1 đã sử dụng tài khoản số 0380118609999 tại MB chuyển 03 lần theo yêu cầu của bị cáo với tổng số tiền 71.500.000 đồng đến số tài khoản 0011004342549 tại VCB do bị cáo cung cấp, cụ thể: ngày 7/6/2022 chuyển 6.500.000 đồng; ngày 29/6/2022 chuyển 60.000.000 đồng; ngày 4/7/2022 chuyển 5.000.000 đồng
Sau khi nhận tổng số tiền 353.500.000 đồng của anh H và chị H1, bị cáo đã sử dụng số tiền trên vào mục đích cá nhân. Anh H do thấy bị cáo nhiều lần hứa hẹn nhưng chị H1 vẫn chưa được vào làm việc tại Trung đoàn I, đã nghi ngờ bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên ngày 22/5/2023 đã nhắn tin yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã nhận. Do không có khả năng chi trả, bị cáo đã nhiều lần viết giấy hẹn trả tiền cho anh H và chị H1, tuy nhiên bị cáo không thực hiện. Ngày 04/12/2023, bị cáo tiếp tục viết giấy hẹn với nội dung ngày 10/12/2023 sẽ hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt cho chị H1 và anh H, nếu không thực hiện sẽ bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đang ở.
Do lo sợ việc anh H và chị H1 trình báo Công an, bị cáo đã lên mạng xã hội tìm hiểu về việc đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để đưa cho anh H nhằm tạo sự tin tưởng. Sau khi liên hệ và kết bạn qua Zalo với đối tượng sử dụng số điện thoại 0931.173.xxx (Không rõ nhân thân), bị cáo gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U490964 thửa đất số 144, tờ bản đồ số 16 do UBND huyện T cấp ngày 9/7/2003 cho hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M, đồng thời đối tượng làm giả thỏa thuận giá làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của bị cáo là 15.000.000 đồng, bị cáo đồng ý. Vài ngày sau khi đặt làm, bị cáo nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M (Đã đính chính nội dung bà Nguyễn Hồng M). Ngày 05/01/2024, bị cáo đã bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh H. Đến ngày 5/2/2024, bị cáo sử dụng tài khoản 0011004342549 tại VCB chuyển số tiền 10.000.000 đồng đến tài khoản số 8820121494007 tại MB của anh H. Nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo đưa là giả, ngày 13/3/2024 anh H đã đến Cơ quan CSĐT – Công an quận B trình báo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu, con dấu giả của bị cáo M.
Vật chứng của vụ án: Tạm giữ của anh H: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 490964 của UBND huyện T cấp ngày 9/7/2023 mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M, nơi thường trú: thôn N, xã M, huyện T, Hà Nội; Tạm giữ của bị cáo M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo quân phục bộ đội màu xanh cộc tay; 01 áo quân phục bộ đội màu xanh dài tay; 01 quần quân phục bộ đội màu xanh; 01 mũ vải nữ bộ đội màu xanh có gắn sao.
Ngày 4/6/2024, cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Quyết định trưng cầu giám định số 2598 đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 490964 của UBND huyện T, Hà Nội cấp ngày 9/7/2023 mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M, nơi thường trú: thôn N, xã M, T, Hà Nội (Ký hiệu A1) mà bị cáo đưa cho anh H giữ. Tại Bản kết luận giám định số 4712/KL – KTHS ngày 28/6/2024 của Phòng K1 - Công an T kết luận: “Các hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TỪ LIÊM TP . HÀ NỘI”, “PHÒNG ĐỊA CHÍNH VÀ ĐÔ THỊ - H. TỪ LIÊM TP HÀ NỘI”, “CHI NHÁNH Q2 – VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI HÀ NỘI” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu là A1) được tạo ra từ phương pháp in phun màu”.
Ngày 6/9/2024, VCB có công văn phúc đáp số 16066 cung cấp thông tin chủ tài khoản 0011004342549 là Nguyễn Hồng M; Sinh ngày: 8/9/1976; Địa chỉ: Số G N, phường M, quận B, Hà Nội.
Ngày 02/8/2024, MB cung cấp thông tin chủ tài khoản 8820121494007 là anh Dương Danh H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Trung đoàn B, thị trấn X, huyện C, Hà Nội). Kết quả sao kê giao dịch ngân hàng cung cấp trong các ngày 23/11/2021, ngày 6/12/2021, ngày 7/2/2022, ngày 8/3/2022, ngày 22/3/2022, ngày 4/4/2022, ngày 5/4/2022; ngày 23/4/2022, ngày 21/5/2022, ngày 27/9/2022 anh H đã chuyển tổng số tiền 272.000.000 đến số tài khoản 0011004342549 của bị cáo M.
Ngày 5/9/2024, MB cung cấp thông tin chủ tài khoản 0380118609999 là Hoàng Thị H1 (Địa chỉ: Thôn T, P, M, Hà Nội). Kết quả sao kê giao dịch ngân hàng cung cấp trong các ngày 7/6/2022, ngày 29/6/2022, ngày 4/7/2022 chị H1 đã chuyển tổng số tiền 71.500.000 đồng đến số tài khoản 0011004342549 của bị cáo M.
Ngày 18/3/2024, Phòng K1, T3, Bộ Q có công văn số 189/ĐTHS cung cấp thông tin: Từ trước đến nay không có ai tên Nguyễn Hồng M, S năm: 1976; Nơi thường trú: TDP N, phường M, quận B, Hà Nội công tác tại T3, Bộ Q
Đối với đối tượng sử dụng số điện thoại 0931.173.xxx bán cho bị cáo M 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, không rõ nhân thân, lai lịch. Kết quả thu giữ điện tín xác định đăng kí thuê bao 0931173976 là bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1971; Nơi thường trú: Phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Bà T2 cung cấp: từ trước đến nay không đăng kí sử dụng số thuê bao 0931173976, không quen biết ai tên Nguyễn Hồng M. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan CSĐT không thu giữ được tài liệu nào khác nên không có căn cứ xử lý đối tượng trên.
Sau khi có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, bị cáo đưa giấy chứng nhận giả cho anh H, mục đích để anh H không làm đơn trình báo Công an về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đồng thời kéo dài thời gian hoàn trả số tiền cho anh H. Bị cáo có hành vi gian dối nhưng không sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với bị cáo về hành vi sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan tổ chức.
Việc nhận tiền xin việc cho chị H1 sau đó chuyển lại cho bị cáo M của anh H: Anh H và chị H1 có mối quan hệ họ hàng, chị H1 chủ động nhờ anh H tìm mối quan hệ để giúp chị H1 xin việc. Anh H không có động cơ vụ lợi, không bàn bạc với bị cáo M để chiếm đoạt tiền của chị H1. Toàn bộ số tiền chị H1 chuyển cho anh H, anh H đã chuyển lại cho bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra, anh H đã chủ động hoàn trả lại cho chị H1 số tiền 282.000.000 đồng đã bị bị cáo chiếm đoạt nên hành vi của anh H không cấu thành tội phạm.
Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra anh H đã hoàn trả cho chị H1 số tiền 282.000.000 đồng nên chị H1 không có yêu cầu gì về dân sự đối với anh H. Chị H1 yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền 71.500.000 đồng đã chiếm đoạt của chị. Anh H yêu cầu bị cáo M bồi thường số tiền 272.000.000 đồng (Bị cáo đã trả lại cho anh H 10.000.000 đồng). Trước khi xét xử, chị Phùng Hải Y, con gái của bị cáo đã nộp số tiền 80 triệu đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra thay cho bị cáo (Trong đó có 30 triệu đồng của bị cáo).
Tại Bản cáo trạng số 261/CT-VKS, ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị H1, anh H theo quy định của pháp luật; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 áo quân phục bộ đội màu xanh cộc tay; 01 áo quân phục bộ đội màu xanh dài tay; 01 quần quân phục bộ đội màu xanh; 01 mũ vải nữ bộ đội màu xanh có gắn sao; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen, đã qua sử dụng.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong quá trình điều tra, truy tố: Các hành vi, quyết định tố tụng được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Do không có việc làm ổn định, không có tiền phục vụ chi tiêu cá nhân, bị cáo Nguyễn Hồng M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Dương Danh H và chị Hoàng Thị H1 thông qua việc đưa ra thông tin gian dối là bị cáo đang giữ cấp bậc Thượng tá, chức vụ Trưởng phòng kiểm định thuộc T3, Bộ Q, có quan hệ với nhiều lãnh đạo cấp cao trong Quân đội và Trung đoàn 910, có khả năng xin việc được cho chị H1 vào làm việc tại Trung đoàn 910. Do tin tưởng bị cáo, anh H đã trao đổi lại với chị H1 về việc nhờ bị cáo M xin việc cho chị H1, chị H1 đồng ý. Từ ngày 23/11/2021 đến ngày 27/9/2022, anh H chuyển tổng số tiền 282.000.000 đồng cho bị cáo M. Cùng thời điểm trên, bị cáo M đã trực tiếp liên hệ với chị Hoàng Thị H1 yêu cầu chị H1 chuyển tổng số tiền 71.500.000 đồng cho bị cáo M để bị cáo xin việc cho chị H1. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị H1, anh H là 353.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin cho bị hại đối với mình để chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động và nhờ gia đình mình bồi thường dùng tài sản của bị cáo và của gia đình một phần thiệt hại cho bị hại; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bố bị cáo là người có công, được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất (Theo Quyết định số 695/QĐ-CTN ngày 12/05/2011 của Chủ tịch nước) và Huy chương quân kỳ quyết thắng (Theo Quyết định số 1690/QĐ-CTN ngày 14/10/2019 của Chủ tịch nước). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
5.1 Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tính giáo dục và phòng ngừa chung.
5.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
[5] Về dân sự:
Bị cáo chiếm đoạt của anh H tổng số tiền là 282.000.000 đồng và của chị H1 tổng số tiền là 71.500.000 đồng. Trước khi bị bắt, bị cáo đã trả cho anh H 10.000.000 đồng, anh H yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp 272.000.000 đồng, chị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường 71.500.000 đồng. Trước khi xét xử, chị Phùng Thị Y1, con gái bị cáo đã nộp số tiền 80.000.000 đồng để bồi thường khắc phục hậu quả thay cho bị cáo. Số tiền khắc phục hậu quả này được hoàn trả cho anh H, chị H1 theo tỉ lệ số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh H chiếm hơn 79,18% và chị H1 chiếm gần 20,82% trên tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của họ do đó, số tiền bị cáo đã khắc phục cũng được trả cho bị hại theo tỉ lệ này và cần buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại. cụ thể: Trả cho anh H số tiền 63.345.000 đồng, trả cho chị H1 số tiền 16.655.000 đồng. Buộc bị cáo bồi thường tiếp cho anh H số tiền 208.655.000 đồng, bồi thường tiếp cho chị H1 số tiền 54.845.000 đồng.
[6] Về vật chứng:
Một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 490964 của UBND huyện T cấp ngày 9/7/2023 mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M, nơi thường trú: thôn N, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội thu giữ của bị cáo, đã được kết luận là giấy tờ giả, liên quan đến tội phạm và không có giá trị sử dụng, cần lưu trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ.
Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo M, là tài sản của bị cáo, được bị cáo sử dụng làm công cụ thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại (Gọi điện, nhắn tín, giao dịch tiền trực tuyến...), liên quan đến tội phạm có giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 áo quân phục bộ đội màu xanh cộc tay, 01 áo quân phục bộ đội màu xanh dài tay, 01 quần quân phục bộ đội màu xanh, 01 mũ vải nữ bộ đội màu xanh có gắn sao đã qua sử dụng của bị cáo M. Xét đây là những bộ trang phục bị cáo mua về để mặc, chụp hình giả làm bộ đội để lừa dối người khác, không có gia trị sử dụng, liên quan đến tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí:
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường tiếp cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng:
Điểm a khoản 3 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự; Các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng M 07 (Bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
4. Về các vấn đề khác
4.1. Về dân sự:
Buộc bị cáo bồi thường tiếp cho anh H số tiền 208.655.000 đồng và bồi thường tiếp cho chị H1 số tiền 54.845.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành số tiền nêu trên của anh H, chị H1, nếu bị cáo không trả số tiền nêu trên thì bị cáo phải chịu một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dan sự đối với số tiền chưa trả.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4.2. Về vật chứng:
- Lưu giữ theo hồ sơ vụ án giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả có số U490964 của UBND huyện T cấp ngày 9/7/2023 mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Hồng M
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo quân phục bộ đội màu xanh cộc tay; 01 áo quân phục bộ đội màu xanh dài tay; 01 quần quân phục bộ đội màu xanh; 01 mũ vải nữ bộ đội màu xanh có gắn sao; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen, đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 39/25 ngày 07/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
4.2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 13.175.000 án phí dân sự sơ thẩm.
4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
- - Bị cáo; bị hại;
- - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
- - Công an quận Bắc Từ Liêm;
- - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
- - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
- - Lưu hồ sơ; Văn phòng.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 289/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 289/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hồng M, thông qua việc đưa ra thông tin gian dối là bị cáo đang giữ cấp bậc cao thuộc T3, Bộ Q, có quan hệ với nhiều lãnh đạo cấp cao. Do tin tưởng bị cáo, anh H đã trao đổi lại với chị H1 về việc nhờ bị cáo M xin việc cho chị H1, chị H1 đồng ý. Từ ngày 23/11/2021 đến ngày 27/9/2022, anh H chuyển tổng số tiền 282.000.000 đồng cho bị cáo M. Cùng thời điểm trên, bị cáo M đã trực tiếp liên hệ với chị Hoàng Thị H1 yêu cầu chị H1 chuyển tổng số tiền 71.500.000 đồng cho bị cáo M để bị cáo xin việc cho chị H1. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị H1, anh H là 353.500.000 đồng
