TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 289/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2024 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Xuân Quyết;
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 246/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 9 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh PARK JUHYEOK; sinh năm 1989; hiện cư trú: 295 beonji S-ri Chowol-eup Gwangju-si G-do, K (Hàn Quốc); vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2024 và bản tự khai đề ngày 05/9/2024, nguyên đơn (chị Bùi Thị Ngọc H) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh PARK JUHYEOK kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 29/01/2024. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Việt Nam được một thời gian ngắn thì anh PARK JUHYEOK về nước để làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang để đoàn tụ nhưng do điều kiện kinh tế không đảm bảo nên cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc đã từ chối. Từ đó vợ chồng ít liên lạc với nhau và khả năng chung sống đoàn tụ không có. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh P JUHYEOK.
Về con: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 26/7/2024 đã được Đ tại Hàn Quốc hợp pháp hóa lãnh sự, bị đơn là anh PARK JUHYEOK trình bày: Thống nhất với chị Bùi Thị Ngọc H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng anh chị không tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị của gia đình chị Bùi Thị Ngọc H xác nhận: Chị H và anh PARK JUHYEOK xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T vào ngày 29/01/2024. Do khả năng đoàn tụ không có nên chị H và anh PARK JUHYEOK cùng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Vợ chồng không tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn là anh PARK JUHYEOK; sinh năm 1989; hiện cư trú: 295 beonji S-ri Chowol-eup Gwangju-si G-do, K (Hàn Quốc) và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc H, hiện đang cư trú tại địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị H và anh PARK JUHYEOK đều có yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị Bùi Thị Ngọc H) và bị đơn (anh PARK JUHYEOK) đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh PARK JUHYEOK.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh PARK JUHYEOK kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 02, ngày 29/01/2024). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh PARK JUHYEOK là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, sau khi kết hôn chị H và PARK JUHYEOK chung sống được một thời gian rồi anh PARK JUHYEOK trở về Hàn Quốc để làm thủ tục bảo lãnh cho chị H. Do điều kiện kinh tế không đảm bảo nên anh PARK JUHYEOK không thể bảo lãnh cho chị H sang Hàn Quốc để vợ chồng chung sống đoàn tụ được. Hiện vợ chồng mỗi người sinh sống một nơi và không còn quan tâm gì đến nhau. Chị H và PARK JUHYEOK đều có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Xét thấy, chị H và anh P JUHYEOK không còn quan tâm đến nhau và cũng không còn mong muốn chung sống với nhau. Do đó, có cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa chị H và anh PARK JUHYEOK không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H. Xử cho chị H được ly hôn với anh PARK JUHYEOK.
- Về con: Chị H và anh PARK JUHYEOK đều xác nhận không có con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản: Chị H và anh PARK JUHYEOK đều xác nhận không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự: Anh PARK JUHYEOK và chị H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc H, cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc H được ly hôn với anh PARK JUHYEOK.
- Về con: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh PARK JUHYEOK không có con chung và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh PARK JUHYEOK không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn (chị Bùi Thị Ngọc H) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000637, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Bùi Thị Ngọc H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Anh PARK JUHYEOK được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Kiên |
Bản án số 289/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 289/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiên cho ly hôn
