Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND Q. HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2023/HS-ST

Ngày: 26/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hấn, bà Nguyễn Thị Diệp Anh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: bà Mai Thùy Linh.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 01 xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 305/2023/HSST ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phương T - Giới tính: Nữ - Sinh năm: 1978

ĐKHKTT: số H N, phường L, quận H, Hà Nội

Nơi cư trú : Không nơi ở ổn định Trình độ học vấn: 12/12

Nghề nghiệp: Lao động tự do Tôn giáo: Không

Quốc tịch: Việt NamDân tộc: Kinh

Họ tên cha: Trần Đức C

Họ tên mẹ: Mai Thị B

Tiền án, tiền sự: Không

Tạm giữ : 02/9/2023 - Tạm giam : 08/9/2023 - Số giam : 4487C2/M1

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 - Công an T3.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/9/2023, tổ công tác Công an phường H trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Trần Phương T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra tại trước cửa số nhà C H, phường H, quận H, Hà Nội. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện giao nộp tại trong lòng bàn tay trái 01 túi ni lông màu trắng kích thước 4x5cm bên trong chứa 04 viên nén màu xám và khai nhận là ma túy “kẹo” mang đi bán cho khách. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an phường H để làm rõ. Ngoài ra, còn thu giữ của Trần Phương T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, kèm số thuê bao 0783389999.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của T thu giữ nội dung tin nhắn với số thuê bao 0335693443 (lưu trong danh bạ là “Bạn Nam”) liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy và chuyển khoản thanh toán giữa tài khoản 9535666666 của Ngân hàng T4 mang tên Nguyen Nhat H đến tài khoản 11121778306011 của Ngân hàng T4 mang tên Tran Phuong T1 (BL 41-42).

Tại Bản Kết luận giám định số 5968/KL-KTHS ngày 09/9/2023 của Phòng K - Công an thành phố T3 kết luận: 04 viên nén màu xám bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,787 gam (BL số 22).

Tại cơ quan điều tra, Trần Phương T khai: Khoảng đầu năm 2023, T quen 01 nam thanh niên tên là N (không rõ lai lịch), sử dụng số điện thoại: 0335.693.xxx. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/9/2023, khi T đang ở nhà, N gọi điện thoại đến số thuê bao 0783389999 của T nhờ mua hộ 04 viên ma túy “kẹo”. Lúc này, T nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời nên báo giá bán ma túy cho N là 1.400.000 đồng và 500.000 đồng tiền giao hàng, tổng số tiền là 1.900.000 đồng. Sau đó, N chuyển 1.900.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T4 số 11121778306011 của T và hẹn giao dịch ở phố H. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T ra khu vực bến xe L gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) để mua 04 viên ma túy “kẹo” màu xám với giá 1.400.000 đồng. Thảo cầm số ma túy trên tay trái và bắt xe ôm đến khu vực phố H để gặp N. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi bộ đến trước số C H thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán thành công thì T sẽ được hưởng lời 500.000 đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng là tài sản cá nhân của T, sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Về số thuê bao 0783389999 do Trần Phương T sử dụng, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh chủ đăng ký là Nguyễn Anh T2 (sinh năm: 1978, trú tại: thôn P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên). Xác minh tại Công an thị trấn K, hiện không xác định được nơi cư trú của Nguyễn Anh T2. Tại Cơ quan điều tra, Trần Phương T khai số thuê bao nêu trên do T mua để sử dụng từ giữa năm 2022 tại cửa hàng bán sim số đẹp (hiện giờ không nhớ rõ địa chỉ) và không có quan hệ với Nguyễn Anh T2.

Cơ quan điều tra tiến hành sao kê số tài khoản 11121778306011 tại Ngân hàng T4 của Trần Phương T xác định: Ngày 05/9/2023, tài khoản 11121778306011 nhận được chuyển khoản số tiền 1.900.000 đồng từ tài khoản 9535666666 của Ngân hàng T4 mang tên Nguyen Nhat H. Xác minh chủ đăng ký tài khoản 9535666666 là Nguyễn Nhật Hoàng G (sinh năm: 1994, trú tại : số E T, phường C, quận B, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, G khai là người bán điện thoại cũ và chuyển khoản cho khách có nhu cầu. Một ngày, G thực hiện từ 05 đến 10 giao dịch. Ngày 01/9/2023, G đã thực hiện giao dịch chuyển khoản đến tài khoản 11121778306011 nhưng không nhớ khách hàng nào nhờ chuyển khoản và không quen biết với Trần Phương T. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Trần Phương T nhận dạng Nguyễn Nhật Hoàng G và xác định G không phải người đàn ông tên N hỏi mua ma túy.

Đối với đối tượng nam giới tên N sử dụng số thuê bao 0335693443, Cơ quan điều tra đã xác minh chủ đăng ký là ông Nguyễn D (sinh năm : 1958, trú tại : số H T, tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng). Ông D khai không đăng ký chính chủ số thuê bao nêu trên và không quen biết Trần Phương T. Do vậy, Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ.

Tại cáo trạng số 290/CT-VKS ngày 12/12/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Trần Phương T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 28 đến 32 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy có đủ căn cứ kết luận khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/9/2023, tại số C H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi cất giấu 1,787 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện vô cùng nguy hiểm, không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội và đường lối xử lý nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm này nhưng vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Bởi vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6] Về tang vật:

+ Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng của bị cáo sử dụng để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung công, 01 sim đã cũ kèm điện thoại không còn giá trị sử dụng cho tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác:

- Về đối tượng bán ma túy cho Trần Phương T, bị cáo khai không biết rõ lai lịch nên HĐXX không xem xét.

- Về đối tượng “Bạn N” mua ma túy của Trần Phương T, có số điện thoại 0335.693.xxx, qua xác minh, chủ thuê bao là ông Nguyễn D (sinh năm: 1958, trú tại: số H T, tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng). Ông D khai không đăng ký chính chủ số thuê bao nêu trên và không quen biết Trần Phương T nên HĐXX không xem xét.

- Về đối tượng chuyển khoản cho bị cáo Trần Phương T, ông Nguyễn Nhật Hoàng G (sinh năm: 1994, trú tại: số E T, phường C, quận B, Hà Nội) là chủ số tài khoản 9535666666 của ngân hàng T4 khai: G là người bán điện thoại cũ và chuyển khoản cho khách có nhu cầu. Ngày 01/9/2023, G đã thực hiện giao dịch chuyển khoản đến tài khoản 11121778306011 của ngân hàng T4 nhưng không nhớ khách hàng nào nhờ chuyển khoản và không quen biết với Trần Phương T. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Trần Phương T nhận dạng Nguyễn Nhật Hoàng G và xác định G không phải người đàn ông tên N hỏi mua ma túy. Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ nên HĐXX không xem xét.

[8] Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân bị cáo, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về hình phạt bổ sung và về các vấn đề khác là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Phương T 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/9/2023.

2. Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, bên trong có 01 túi nilon kích thước khoảng 4x5cm bên trong chứa 04 viên nén màu xám. Tổng khối lượng 1,787 gam (PC09 trích mẫu 0,663 gam), còn lại 1,124 gam.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

+ Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, xung quanh máy xước, bẩn, không rõ chất lượng, nguồn gốc xuất xứ.

(Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm và được mô tả cụ thể theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 25/12/2023).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 288/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoản 1 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger