|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 288/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 7 - 2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Phước Tân;
- Bà Dương Thị Thúy Duy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 386/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim D, sinh năm 1983; cư trú: Tổ C, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Trần Phước H, sinh năm 1981; cư trú: Tổ H, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà D và ông H đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Trần Thị Kim D trình bày:
Hôn nhân giữa bà và ông Trần Phước H do mai mối, được gia đình hai bên đứng ra tổ chức lễ cưới vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào năm 2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông H không chăm lo làm ăn mà lo ăn chơi, không quan tâm đến vợ con. Bà vì thương con nên nhiều lần khuyên ngăn ông H nhưng ông vẫn tính nào tật nấy không sửa đổi nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, ông H và gia đình hai bên cũng nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện bà không còn tình cảm với ông H, bà xin được ly hôn với ông Trần Phước H.
Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Trần Ngọc Y, sinh năm 2005; 2/ Cháu Trần Dĩ H1, sinh ngày 01/10/2009. Hiện cháu Y đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu H1 đang sống với bà D và được bà D nuôi dạy. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy cháu H1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Phước H trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 13/6/2024: Hôn nhân giữa ông và bà D do mai mối, có tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn như lời bà D trình bày. Theo ông, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông cũng có ăn chơi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi. Sau đó, ông đã tìm cách hàn gắn nhưng bà D không đồng ý tha thứ nên vợ chồng ông đã không còn sống chung khoảng 07 năm nay. Ông và bà D sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, cả hai cũng bỏ mặc không quan tâm nhau nên ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Thống nhất với bà D có 02 con chung, họ tên, năm sinh đúng như lời bà D trình bày. Do cháu Y đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, riêng cháu H1, ông đồng ý để bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Thống nhất với bà D không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.
Biên bản xác minh ngày 27/6/2024, người thân bà D cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà D, ông H là do ông H không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến bà D và các con, cũng không phụ giúp kinh tế cho bà D nuôi con chung, gia đình hai bên cũng nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành, theo bà khả năng đoàn tụ là không thể; về con chung thì có 02 con chung, 01 cháu đã trưởng thành, 01 cháu nhỏ hiện đang sống với bà D; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Theo Biên bản lấy lời khai con chưa thành niên ngày 01/7/2024 thì cháu Trần Dĩ H1, sinh ngày 01/10/2009 có nguyện vọng được sống chung với bà D.
Tại phiên toà: Bà D và ông H đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của bà D, ông H có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và ông H đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện ly hôn của bà D và ông H theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H1, ông H đồng ý và cháu H1 có nguyện vọng tiếp tục sống với bà D. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D, giao con chung cho bà D được tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Kim D yêu cầu được ly hôn với ôngTrần Phước H. Ông H cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà D và ông H đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D và ông H theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện:
Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H do mai mối tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 07/9/2005 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà D xin ly hôn với ông H, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông H phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn và sống ly thân từ năm 2017. Trong thời gian ly thân, ông H và gia đình hai bên đã nhiều lần hàn gắng nhưng không thành nên ông H cũng bỏ mặc và cả hai không quan tâm đến nhau. Bà D và ông H đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau nên ông H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà D. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện ly hôn giữa bà D và ông H quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Trần Ngọc Y, sinh năm 2005; 2/ Cháu Trần Dĩ H1, sinh ngày 01/10/2009. Hiện cháu Y đã trưởng thành có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu H1, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, ông H đồng ý. Xét thấy, cháu H1 có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà D, do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử, giao cháu Trần Dĩ H1 cho bà D được trực tiếp nuôi dạy.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà D không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Các Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim D .
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện ly hôn giữa bà Trần Thị Kim D và ông Trần Phước H.
Về con chung: Bà Trần Thị Kim D được trực tiếp nuôi dạy 1 (một) con chung tên Trần Dĩ H1, sinh ngày 01/10/2009.
Công nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông H cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà D. Ngược lại, bà D và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Trần Thị Kim D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà bà D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009467 ngày 04/6/2024.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sang |
5
Bản án số 288/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 288/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà D - ông H
