Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số:288/2024HSST

Ngày 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩ

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Hoàng Văn Mầm

2.Ông Bùi Ngọc Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh – Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng T- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 287/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Từ T1; Giới tính:Nam;Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/4/1984;Tại: Đắk Lắk;Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A Đ, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Nghề nghiệp: Kinh doanh;Trình độ học vấn: 12/12.Tiền án, tiền sự: Không.Con ông: Nguyễn Xuân T2; Con bà: Từ Thị N, trú tại: TDP7, phường K, thành phố B. Gia đình bị cáo có 0 3 anh, em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

Bị cáo có vợ là: Mai Thị Trường A, sinh năm: 1987 và 02 con, lớn nhất sinh năm: 2017, nhỏ nhất sinh năm: 2020, hiện cùng trú tại: Số A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 15/7/2024, bị khởi tố về hành vi Trốn Thuế và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

-Bà Mai Thị Trường A-sinh năm: 1987(Có đơn xin xử vắng mặt)

Số A Đ, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

-Công ty TNHH X.

Đại diện theo pháp luật- Ông Nguyễn Kỳ K- sinh năm:1960(Vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Bà Lưu Thị N1; sinh năm: 1964-Chức vụ: Phó giám đốc(Có mặt)

Địa chỉ: Số G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

-Bà Phạm Thị Mai H; sinh năm:1983(Có mặt)

Địa chỉ: 4 H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

-Ông Nguyễn Thanh B; sinh năm: 1989(Có mặt)

Địa chỉ: Số A, liên gia E, TDP G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

-Ông Nguyễn Thanh T3; sinh năm: 1989(Vắng mặt)

Địa chỉ: E T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Từ T1, sinh năm: 1984, trú tại: Số A Đ, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X (viết tắt: Công ty X); Mã số thuế: 6001186196, địa chỉ: Số A, Tổ E, tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, được thành lập vào ngày 11/8/2011, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, ngành nghề kinh doanh: Xây dựng công trình.

Công ty X có 03 thành viên, gồm: Ông Nguyễn Từ T1, giữ chức vụ giám đốc, là người điều hành, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của công ty, quản lý con dấu và hóa đơn GTGT của công ty; ông Nguyễn Thanh B, sinh ngày 10/8/1989, nơi cư trú: Số A, Tổ E, TDP G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (tỷ lệ phần trăm vốn góp là 10%), là em trai ruột của ông T1; ông Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 14/3/1972, nơi đăng ký HKTT: 57 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (tỷ lệ phần trăm vốn góp là 10%) là thành viên của Công ty, được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định.

Về tình hình kê khai, báo cáo thuế và sử dụng hóa đơn GTGT, Công ty X đã nộp hồ sơ khai thuế GTGT và báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đến quý 4/2019, số hóa đơn GTGT còn tồn từ số 0000016 đến 0000100, ký hiệu mẫu hóa đơn 01GTKT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P; từ năm 2020 đến nay, Công ty X không nộp hồ sơ khai thuế cho Cơ quan thuế. Ngày 02/3/2020, Cục thuế tỉnh Đ ra thông báo số 476/TB-KT về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký đối với Công ty X, theo đó, số hóa đơn GTGT còn tồn từ số 0000016 đến 0000100, ký hiệu mẫu hóa đơn 01GTKT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17, không còn giá trị sử dụng.

Đối với Công ty TNHH X (viết tắt: Công ty X), mã số thuế: 6001361190; Địa chỉ: G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, được thành lập vào ngày 25/9/2012, đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp: 6001361190; Ngành nghề kinh doanh: Xây dựng công trình; Ông Nguyễn Kỳ K, sinh năm 1960, nơi cư trú: Số G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Quá trình kinh doanh, bà Lưu Thị N1, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số G T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vợ của ông K), giữ chức vụ phó giám đốc, là người trực tiếp điều hành, chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh của công ty, ông K chỉ nhân danh công ty trên giấy tờ, thủ tục pháp lý.

Ngày 26/12/2018, Liên danh Công ty X và Công ty X ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình số: 27/2018/HĐXD với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự (viết tắt là Chi cục T4) huyện K, tỉnh Đắk Lắk, tổng giá trị Hợp đồng là 8.512.000.000 đồng (Tám tỷ năm trăm mười hai triệu đồng), trong đó giá trị khối lượng công trình thực hiện của Công ty X là 5.009.100.321 đồng và Công ty X là 3.502.899.679 đồng. Về phía công ty X, toàn bộ việc ký hợp đồng, chịu trách nhiệm thi công và thực hiện các nghĩa vụ khác theo hợp đồng đều do một mình ông T1 tham gia và chịu trách nhiệm, không bàn bạc và thỏa thuận, thống nhất với thành viên nào khác trong Công ty. Sau khi ký hợp đồng, ngày 30/12/2018, chủ đầu tư đã tạm ứng cho bên nhận thầu số tiền 3.098.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S tại Ngân hàng TMCP Đ1 - Chi nhánh Đ2 (B1) của Công ty X. Đối với số tiền tạm ứng trên, Công ty X đã chuyển nhiều lần thông qua hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt cho Công ty X số tiền khoảng 2.883.444.000 đồng để thi công công trình, đóng chi phí bảo lãnh công trình tại B1 số tiền khoảng 120.000.000 đồng và giữ lại số tiền khoảng 90.000.000 đồng là chi phí quản lý công trình. Ngày 30/11/2019, Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp ký Phụ lục hợp đồng số 01/2019/PLHĐXD với Liên danh Công ty X và Công ty X, thỏa thuận về tài khoản thanh toán chung cho Liên danh Công ty X và Công ty X đối với hợp đồng số 27/2018/HĐXD ngày 26/12/2018 là tài khoản số 63610000139999 tại B2 của Công ty X, Công ty X chịu trách nhiệm xuất hóa đơn toàn phần khối lượng công trình được thanh toán cho chủ đầu tư lập hồ sơ thanh quyết toán.

Từ ngày 20/12/2019 đến ngày 31/12/2020, Liên danh Công ty X và Công ty X đã thực hiện thi công công trình trên và được chủ đầu tư nghiệm thu, thanh toán với tổng giá trị khối lượng là 7.227.323.470 đồng, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 20/12/2019, giá trị khối lượng được nghiệm thu là 3.951.090.445 đồng, trong đó, giá trị khối lượng do Công ty X thực hiện là 2.375.451.610 đồng, do Công ty X thực hiện là 1.575.638.835 đồng. Chủ đầu tư thu hồi tạm ứng số tiền 2.375.451.610 đồng vào ngày 16/01/2020 (từ Công ty X) và thanh toán cho Công ty X số tiền 1.575.638.835 đồng vào tài khoản số 63610000139999 mở tại B2 của Công ty X vào ngày 21/01/2020, trích nộp thuế số tiền 31.512.777 đồng cho Chi cục thuế khu vực E - K, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Lần 2: Ngày 06/9/2020, giá trị khối lượng được nghiệm thu là 2.015.188.816 đồng, trong đó, giá trị khối lượng do Công ty X thực hiện là 632.479.872 đồng, do Công ty X thực hiện là 1.382.708.944 đồng. Chủ đầu tư thu hồi tạm ứng: 722.548.390 đồng vào ngày 30/11/2020 (từ Công ty X), thanh toán cho Công ty X số tiền 1.204.827.617 đồng vào tài khoản số 63610000139999 mở tại B2 của Công ty X vào ngày 30/11/2020, trích nộp thuế số tiền 87.812.809 đồng cho Chi cục thuế khu vực E - K, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Lần 3: Ngày 15/10/2020, giá trị khối lượng được nghiệm thu là 1.261.044.209 đồng, trong đó giá trị khối lượng do Công ty X thực hiện là 532.475.124 đồng, do Công ty X thực hiện là 728.569.085 đồng. Chủ đầu tư thanh toán cho Công ty X số tiền 1.235.823.325 đồng vào tài khoản số 63610000139999 mở tại B2 của Công ty X vào ngày 31/12/2020, trích nộp thuế số tiền 25.220.884 đồng cho Chi cục thuế khu vực E - K, tỉnh Đắk Lắk.

Giá trị khối lượng còn lại chưa được nghiệm thu, thanh toán là: 1.284.695.734 đồng vì lý do nhà thầu chưa hoàn thành hồ sơ trình ký quyết toán Hợp đồng với Chủ đầu tư.

Căn cứ vào Bảng xác định giá trị công việc đã hoàn thành đề nghị thanh toán theo từng đợt như trên, T1 và bà N1 thỏa thuận mỗi công ty tự căn cứ vào giá trị nghiệm thu trên hồ sơ nghiệm thu để xuất hóa đơn, kê khai, báo cáo thuế theo quy định. Theo đó, công ty X đã xuất 01 hóa đơn GTGT số 0000143 ngày 27/12/2021, tổng giá trị thanh toán ghi trên hóa đơn là 3.502.918.884 đồng cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp và kê khai, nộp thuế đầy đủ vào ngân sách nhà nước, đảm bảo hoàn thành đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của công ty X.

Công ty X đã xuất 03 tờ hóa đơn GTGT số 0000020, ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 09/12/2019; số 0000024 ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 10/11/2020 và số 0000025 ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 26/11/2020 (nội dung ghi trên hóa đơn đã mờ do viết giấy than nên mất màu) theo đề nghị của Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để làm hồ sơ thanh toán công trình. Thời điểm này, mặc dù Tốn biết hóa đơn GTGT của Công ty X đã hết giá trị sử dụng theo thông báo của Cục thuế tỉnh Đ nhưng T1 vẫn sử dụng tư cách pháp nhân của Công ty T5 03 hóa đơn GTGT trên cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp nhằm mục đích được chủ đầu tư thanh toán. Tuy nhiên, T1 không nộp hồ sơ khai thuế, không cung cấp hồ sơ, chứng từ liên quan đến công trình xây dựng trụ sở làm việc và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, đã nghiệm thu và thanh toán tổng số tiền là 4.129.323.470 đồng, trong đó Công ty X được hưởng số tiền 3.984.777.000 đồng, trích nộp thuế 2% số tiền 144.546.470 đồng cho Chi cục thuế khu vực E1 - K, tỉnh Đắk Lắk, nhằm mục đích trốn thuế.

Ngày 27/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu giám định số 642/QĐ-KT, trưng cầu Cục thuế tỉnh Đ giám định thiệt hại thuế đối với hành vi không nộp hồ sơ khai thuế đối với công trình xây dựng trụ sở làm việc và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, đã nghiệm thu và thanh toán trong năm 2020 của nhà thầu liên danh Công ty X và Công ty X.

Kết luận giám định số 5053/KLGĐ ngày 21/12/2022 của Cục thuế tỉnh Đ kết luận: Công ty TNHH X có hành vi không nộp hồ sơ khai thuế đối với công trình xây dựng trụ sở làm việc và kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã được nghiệm thu và thanh toán là không đúng quy định, gây thiệt hại về thuế: 205.739.738 đồng, trong đó thuế GTGT: 193.045.673 đồng, thuế TNDN: 12.694.065 đồng theo quy định tại Điều 108 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 và Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH11 ngày 13/6/2019. Cụ thể: Công ty TNHH X gây thiệt hại về thuế GTGT tại kỳ tính thuế GTGT quý 3/2020 (từ ngày 02/11/2020) số tiền 126.812.120 đồng, tại kỳ tính thuế GTGT quý 4/2020 (từ ngày 01/02/2021) số tiền 66.233.553 đồng; thuế TNDN tại kỳ tính thuế TNDN năm 2020 (từ ngày 01/4/2021) số tiền 12.694.065 đồng

Biên bản làm việc với Cục thuế tỉnh Đ ngày 11/8/2023 xác định: Tại bản kết luận giám định số 5053/KLGĐ ngày 21/12/2022 của Cục thuế tỉnh Đ xác định hành vi không nộp hồ sơ khai thuế đối với Công trình trụ sở làm việc và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk của Công ty TNHH X là hành vi Trốn Thuế, gây thiệt hại thuế là 205.739.738 đồng

Theo Công văn trả lời số 1985 ngày 26/6/2023 của Cục thuế tỉnh Đ xác định: Công ty TNHH X không được sử dụng hóa đơn và mã số thuế trong các giao dịch kinh tế kể từ ngày Cục thuế ban hành thông báo 476/TB-CT

Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu giám định số 858/QĐ-KT trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh Đ giám định con dấu, chữ ký trên các tài liệu là hồ sơ liên quan đến việc ký hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán công trình: Trụ sở làm việc và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk và 03 hóa đơn GTGT do Công ty TNHH T5 cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1.

Kết luận giám định số 1441/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Toàn bộ hình dấu tròn trên các tài liệu giám định đều là hình dấu của Công ty TNHH X; Chữ ký mang tên Nguyễn Từ T1 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký của ông Nguyễn Từ T1 là do cùng một người ký và viết ra

Tại bản cáo trạng số:282/CT-VKSTPBMT ngày 13/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Nguyễn Từ T1 về tội “ Trốn thuế” theo quy định tại Điểm a, d khoản 1 Điều 200 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Từ T1 phạm tội “ Trốn thuế”.

Áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 200, Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Từ T1: Từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

*Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Đ a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Công ty TNHH X, Nguyễn Từ T1 đã sử dụng danh nghĩa của Công ty để ký hợp đồng, quá trình hoạt động kinh doanh không bàn bạc thống nhất với Hội đồng thành viên của Công ty TNHH X. Do đó, Công ty TNHH X không phải chịu trách nhiệm của pháp nhân theo quy định tại Điều 75 Bộ luật hình sự.

Đối với ông Nguyễn Thanh B, là thành viên góp vốn của Công ty TNHH X theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 08/5/2017 của Công ty TNHH X. Tuy nhiên, quá trình hoạt động kinh doanh, ông Bằng k biết và không được ông T1 thông báo, bàn bạc về việc ký hợp đồng với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, không tham gia và không được chia lợi nhuận từ hợp đồng trên. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông ông Nguyễn Thanh T3: Hiện nay ông T3 không có mặt ở địa phương, chưa xác định được nơi sinh sống và làm việc của ông T3, Cơ quan điều tra chưa triệu tập được để làm việc, làm rõ những nội dung có liên quan trong vụ án nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với bà Mai Thị Trường A, có quan hệ vợ chồng với Nguyễn Từ T1, T1 đã bổ nhiệm bà A là Kế toán trưởng của Công ty TNHH X, nhằm mục đích quản lý tài chính, đăng ký mở tài khoản ngân hàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH X. Việc kê khai, báo cáo thuế hàng quý, năm của công ty do ông T1 thuê Đại lý thuế T6, thành phố B thực hiện dựa trên các hồ sơ, tài liệu, chứng từ do công ty cung cấp và theo sự chỉ đạo của ông T1, A không tham gia giúp sức về việc kê khai, báo cáo thuế của công ty. Vào năm 2018, bà A biết việc Công ty TNHH X có ký Hợp đồng thi công với với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, nhưng A không tham gia và không biết nội dung thi công, nghiệm thu, thanh toán đối với công trình trên như thế nào. Thông thường, A chủ động ký tên sẵn tại mục “kế toán trưởng” tại các tờ SÉC, ủy nhiệm chi chưa ghi nội dung của Công ty, để ông T1 có thể chủ động rút/chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng số 63610000139999 tại B2 của Công ty TNHH X, bà A không biết ông T1 sử dụng tiền tại tài khoản ngân hàng trên như thế nào, sử dụng vào mục đích gì. Hành vi trên của A không có dấu hiệu đồng phạm với bị can T1 về tội Trốn thuế nên không đề cập xử lý.

Đối với bà Phạm Thị Mai H, là nhân viên kế toán Công ty TNHH X, có nhiệm vụ lập sổ sách kế toán, lập tờ khai, báo cáo thuế hàng quý, năm, báo cáo khác khi có phát sinh theo sự chỉ đạo của T1 và tài liệu, chứng từ (đầu vào, đầu ra) của công ty, được trả lương hàng tháng là 2.000.000 đồng/01 tháng. Quá trình làm việc, Công ty TNHH X không cung cấp hồ sơ, chứng từ gì liên quan đến công trình thuộc dự án Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk vào sổ sách Công ty nên bà H không lập hồ sơ khai thuế đối với công trình trên, không biết việc Công ty TNHH X có phát sinh hợp động kinh tế và xuất hóa đơn GTGT cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp. Xét thấy, hành vi trên của bà H không có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T1 về tội Trốn thuế nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với hành vi của bà Lưu Thị N1, là người đại diện Công ty X (theo ủy quyền của ông Nguyễn Kỳ K- Giám đốc Công ty) thỏa thuận liên danh với Công ty TNHH X để ký hợp đồng liên danh với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào giá trị hợp đồng đã ký kết và giá trị khối lượng công trình đã được nghiệm thu, Công ty X đã thực hiện xuất 01 hóa đơn GTGT tương ứng số 0000143 ngày 27/12/2021, tổng giá trị thanh toán ghi trên hóa đơn là 3.502.918.884 đồng cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp và kê khai nộp thuế đầy đủ vào ngân sách nhà nước. Bà N1 không biết và không liên quan gì đối với việc Công ty TNHH Đ3 quy định về thuế, hóa đơn như trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

-Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 110.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Từ T1 đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả cần chuyển đến Cục Thuế tỉnh Đ, để truy thu thuế của Công ty TNHH X.

-Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Từ T1 tiếp tục thực hiện nộp số tiền 95.739.738 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho Cục T7.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, thừa nhận hành vi phạm tội chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột; Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Từ T1 tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng đã thu được; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện... nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có ý thức coi thường pháp luật, coi thường trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước nên vào khoảng thời gian từ tháng 12/2019 đến tháng 11/2020, trên địa bàn thành phố B, bị cáo Nguyễn Từ T1 đã có hành vi sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng không hợp pháp số GTGT số 0000020, ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 09/12/2019; số 0000024 ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 10/11/2020 và số 0000025 ký hiệu mẫu hóa đơn 01 GTGTT3/001, ký hiệu hóa đơn TN/17P, ngày 26/11/2020 để hạch toán hàng hóa mua vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế trốn cụ thể như sau: Thuế GTGT là 193.045.673 đồng, thuế TNDN là 12.694.065 đồng. Tổng số tiền trốn thuế là 205.739.738 đồng.

    Hành vi trên của Nguyễn Từ T1 đã phạm vào tội “ Trốn thuế”.

    Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a, d khoản 1 Điều 200 của Bộ Luật hình sự.

Điều 200. Tội Trốn Thuế

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế vời số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

a, Không nộp hồ sơ khai thuế;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

Xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Từ T1 là ít nghiêm trọng, nhưng trực tiếp xâm phạm đến chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý các loại thuế, xâm phạm tới lợi ích Nhà nước trong hoạt động thu thuế nộp ngân sách cho nhà nước. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm minh và trừng trị, giáo dục bị cáo để góp phần răn đe đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả, bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngoài lần phạm tội này không có lần phạm tội nào khác, không có tình tiết tăng nặng nên đủ điều kiện để cải tạo tại địa phương không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo để trở thành công dân có ích cho xã hội nên áp dụng hình phạt là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

*Các biện pháp tư pháp:Căn cứ Điều 46 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c Khoản 2 và Đ a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Công ty TNHH X, Nguyễn Từ T1 đã sử dụng danh nghĩa của Công ty để ký hợp đồng, quá trình hoạt động kinh doanh không bàn bạc thống nhất với Hội đồng thành viên của Công ty. Do đó, Công ty TNHH X không phải chịu trách nhiệm của pháp nhân theo quy định tại Điều 75 Bộ luật hình sự.

Đối với ông Nguyễn Thanh B, là thành viên góp vốn của Công ty TNHH X theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH hai thành viên trở lên, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 08/5/2017 của Công ty TNHH X. Tuy nhiên, quá trình hoạt động kinh doanh, ông Bằng k biết và không được ông T1 thông báo, bàn bạc về việc ký hợp đồng với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, không tham gia và không được chia lợi nhuận từ hợp đồng trên. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông ông Nguyễn Thanh T3: Hiện nay ông T3 không có mặt ở địa phương, chưa xác định được nơi sinh sống và làm việc của ông T3, Cơ quan điều tra chưa triệu tập được để làm việc, làm rõ những nội dung có liên quan trong vụ án nên tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với bà Mai Thị Trường A, có quan hệ vợ chồng với Nguyễn Từ T1, T1 đã bổ nhiệm bà A là Kế toán trưởng của Công ty TNHH X, nhằm mục đích quản lý tài chính, đăng ký mở tài khoản ngân hàng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH X. Việc kê khai, báo cáo thuế hàng quý, năm của công ty do ông T1 thuê Đại lý thuế T6, thành phố B thực hiện dựa trên các hồ sơ, tài liệu, chứng từ do công ty cung cấp và theo sự chỉ đạo của ông T1, A không tham gia giúp sức về việc kê khai, báo cáo thuế của công ty. Vào năm 2018, bà A biết việc Công ty X có ký Hợp đồng thi công với với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, nhưng A không tham gia và không biết nội dung thi công, nghiệm thu, thanh toán đối với công trình trên như thế nào. Thông thường, A chủ động ký tên sẵn tại mục “kế toán trưởng” tại các tờ SÉC, ủy nhiệm chi chưa ghi nội dung của Công ty, để ông T1 có thể chủ động rút/chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng số 63610000139999 tại B2 của Công ty TNHH X, bà A không biết bị cáo T1 sử dụng tiền tại tài khoản ngân hàng trên như thế nào, sử dụng vào mục đích gì. Hành vi trên của A không có dấu hiệu đồng phạm với bị can T1 về tội Trốn thuế nên không đề cập xử lý.

Đối với bà Phạm Thị Mai H, là nhân viên kế toán Công ty TNHH X, có nhiệm vụ lập sổ sách kế toán, lập tờ khai, báo cáo thuế hàng quý, năm, báo cáo khác khi có phát sinh theo sự chỉ đạo của T1 và tài liệu, chứng từ (đầu vào, đầu ra) của công ty, được trả lương hàng tháng là 2.000.000 đồng/01 tháng. Quá trình làm việc, Công ty TNHH X không cung cấp hồ sơ, chứng từ gì liên quan đến công trình thuộc dự án Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk vào sổ sách Công ty nên bà H không lập hồ sơ khai thuế đối với công trình trên, không biết việc công ty X có phát sinh hợp động kinh tế và xuất hóa đơn GTGT cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp. Xét thấy, hành vi trên của bà H không có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T1 về tội Trốn thuế nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với hành vi của bà Lưu Thị N1, là người đại diện Công ty X (theo ủy quyền của ông Nguyễn Kỳ K- Giám đốc Công ty) thỏa thuận liên danh với Công ty TNHH X để ký hợp đồng liên danh với Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp để thi công công trình thuộc dự án: Xây dựng trụ sở làm việc và Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào giá trị hợp đồng đã ký kết và giá trị khối lượng công trình đã được nghiệm thu, Công ty X đã thực hiện xuất 01 hóa đơn GTGT tương ứng số 0000143 ngày 27/12/2021, tổng giá trị thanh toán ghi trên hóa đơn là 3.502.918.884 đồng cho Ban Q tập trung thuộc Cục K1, Bộ Tư pháp và kê khai nộp thuế đầy đủ vào ngân sách nhà nước. Bà N1 không biết và không liên quan gì đối với việc Công ty TNHH Đ3 quy định về thuế, hóa đơn như trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

-Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 110.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Từ T1 đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả cần chuyển đến Cục Thuế tỉnh Đ, để truy thu thuế của Công ty TNHH X.

-Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Từ T1 tiếp tục thực hiện nộp số tiền 95.739.738 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp cho Cục T7.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, thừa nhận hành vi phạm tội chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, d khoản 1 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Từ T1 phạm tội “ Trốn thuế”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Từ T1: Số tiền 150.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

-Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Nguyễn Từ T1 đã nộp số tiền 110.000.000 đồng tiền thuế giá trị gia tăng, cần chuyển đến Cục Thuế tỉnh Đ, để truy thu thuế của Công ty TNHH X.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Từ T1 tiếp tục thực hiện nộp số tiền 95.739.738 đồng trong đó: 12.694.065 đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp và 83.045.673 đồng thuế giá trị gia tăng cho Cục Thuế tỉnh Đ.

-Về án phí: Bị cáo Nguyễn Từ T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

-Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 – TAND TC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột;
  • - Công an Tp. Buôn Ma Thuột;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo, các đương sự
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm (tội trốn thuế)

  • Số bản án: 288/2024HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trốn Thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Từ Tốn phạm tội trốn thuế theo điểm a,d khoản 1 Điều 200 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger