TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 288/2024/HNGĐ - ST Ngày: 25/7/2024. Về việc tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Kim Lan
2. Ông Kiều Xuân Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 25/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST– HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Bích H, sinh năm 1992;
- Bị đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1987;
Đều có nơi thường trú: Thôn A H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt: chị H, anh M (đều có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện ngày 18/01/2024, những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Bích H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Bích H kết hôn với anh Trần Văn M trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 19/01/2011. Sau khi kết hôn, anh, chị thuê trọ sinh sống cùng nhau tại khu G, phố Y, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống giữa anh, chị bắt đầu mâu thuẫn từ ngày 10/01/2023. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị là do vợ, chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống căng thẳng nhiều lần xảy ra cãi vã.
Mâu thuẫn, ngày trầm trọng cho đến khoảng đầu năm 2024 thì anh, chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị H xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ, chồng không còn, không hàn gắn được do vậy chị xin ly hôn anh M.
Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là: cháu Trần Hoàng Hải S, sinh ngày 18/6/2011 và cháu Trần Thu T, sinh ngày 05/10/2013. Hiện nay cháu S và cháu T đều đang ở với chị. Ly hôn, chị H xin được nuôi cháu T, còn cháu S do anh M nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị H xác định anh, chị không có gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo lời khai của bị đơn là anh Trần Văn M trình bày: anh và chị H trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban dân xã M, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 19/01/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị thuê trọ sinh sống. Thời gian đầu vợ, chồng sinh sống hòa thuận hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Đến khoảng tháng 3/2024, vợ, chồng anh chị sống ly thân. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không hàn gắn được nên chị H xin ly hôn anh nhất trí ly hôn.
Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là: cháu Trần Hoàng Hải S, sinh ngày 18/6/2011 và cháu Trần Thu T, sinh ngày 05/10/2013. Hiện nay cháu S và cháu T đều đang ở với chị H. Ly hôn, anh xin nuôi cháu S, còn cháu T do chị H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: vợ chồng anh không có.
Tại phiên tòa, chị H và anh M có đơn xin vắng mặt nên không có ý kiến.
Ngày 17/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh có Thông báo số 03/TB-VKS về việc không tham gia phiên tòa nên không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn M có nơi thường trú tại thôn A H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội nên theo quy định của pháp luật yêu cầu giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình của chị Hoàng Thị Bích H với anh Trần Văn M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Chị Hoàng Thị Bích H có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án xét xử và anh Trần Văn M có có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H, anh M theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giành quyền kháng cáo cho chị H, anh M theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Bích H và anh Trần Văn M: Anh, chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 19/01/2011 (đăng ký kết hôn số 08/2011) nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Qua lời khai của anh, chị và kết quả xác minh thể hiện: Quá trình chung sống anh, chị đã bắt đầu mâu thuẫn từ ngày 10/01/2022 và mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng cho đến tháng 3/2024 thì anh, chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với nhau nên chị H xin ly hôn, anh M nhất trí. Nhận thấy, quá trình chung sống giữa anh, chị đã nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài, quan điểm sống không tương đồng, sống ly thân nhưng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh, chị cùng thống nhất ly hôn do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Bích H với anh Trần Văn M là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là: cháu Trần Hoàng Hải S, sinh ngày 18/6/2011 và cháu Trần Thu T, sinh ngày 05/10/2013. Ly hôn, chị H, anh M cùng thống nhất: chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu S. Chị H, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, khi ly hôn giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu S và không xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung vì chị H, anh M không yêu cầu cho đến khi con chung của anh, chị thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án.
[4] Về tài sản chung: Anh, chị cùng có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Hoàng Thị Bích H xin chịu cả là phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản chung:
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Bích H xin ly hôn anh Trần Văn M. Chị Hoàng Thị Bích H được ly hôn anh Trần Văn M.
Chị Hoàng Thị Bích H và anh Trần Văn M có hai con chung là: cháu Trần Hoàng Hải S, sinh ngày 18/6/2011 và cháu Trần Thu T, sinh ngày 05/10/2013. Khi ly hôn, giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thu T, giao cho anh Trần Văn M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng Hải S và ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi cháu S, cháu T đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án. Chị Hoàng Thị Bích H, anh Trần Văn M có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xét.
300.000 đồng, chị Hoàng Thị Bích H phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8726 ngày 29/5/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Hoàng Thị Bích H, anh Trần Văn M có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ | |
| Thịnh Quang Trung |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Mê Linh;
- - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
- - THA dân sự huyện Mê Linh;
- - UBND xã Mê Linh (GCN kết hôn số 08/2011 ngày 19/01/2011);
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Bản án số 288/2024/HNGĐ - ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 288/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hoàng Thị Bích H xin ly hôn anh Trần Văn M
