TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 288/2024/HS-ST. Ngày: 24/6/2024. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cửu Long;
Ông Cao Quốc Hưng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn K – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 200/2024/TLST-HS ngày 17/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2024/QĐXXST-HS ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-HS ngày 06/6/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vũ Văn K1, sinh năm 1993 tại Hải Dương. Nơi thường trú: Thôn D, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: 60 Đường B, Tổ H, khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Vũ Văn K2, sinh năm 1969; mẹ tên Trương Thị H, sinh năm 1979; vợ tên Hoàng Thị N, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Trương Vũ T, sinh năm 1974 tại Quảng Bình. Nơi thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Trương Văn H1, sinh năm 1943; mẹ tên Nguyễn Thị H2, sinh năm 1944; vợ tên Lê Thị Á, sinh năm 1977; có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Phan Hữu Q, sinh năm 1990 tại Thừa Thiên Huế. Nơi thường trú: Số E đường D, Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Phan Hữu H3, sinh năm 1969; mẹ tên Nguyễn Thị H4, sinh năm 1969; vợ tên Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1991; có 02 con, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1986 tại Phú Yên. Nơi thường trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Nguyễn Văn C (chết); mẹ tên Ngô Thị Mỹ L (chết); vợ tên Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1987; có 02 con, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Lê Ái Chiêu M, sinh năm 1980 tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Nơi thường trú: Thôn V, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: 198A Đường A, Tổ C, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Lê Quang H5, sinh năm 1954; mẹ tên Nguyễn Thị H6, sinh năm 1955; vợ tên Huỳnh Như Ý, sinh năm 1990; có 02 con, con nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Nguyễn Văn H7, sinh năm 1991 tại Quảng Bình. Nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê. Cha tên Nguyễn Văn H8, sinh năm 1962; mẹ tên Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; vợ tên Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1993; có 02 con, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Họ và tên: Lê Việt A, sinh năm 1978 tại Hải Dương. Hộ khẩu thường trú: 228/1 đường G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 65/33 Đường C, Tổ E, Khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe. Cha tên Lê Duy P2, sinh năm 1951; mẹ tên Nguyễn Thị H9, sinh năm 1958; vợ tên Lê Cát T3, sinh năm 1983; có 02 con, con nhỏ sinh năm 2010. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 10/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Họ và tên: Lê Minh H10, sinh năm 1968 tại Cà Mau. Nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm thuê. Cha tên Lê Văn Ú, sinh năm 1949; mẹ tên Lê Thị M1 (chết); chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 24/12/2023, tại bãi xe P3 (đường V, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường P kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang các đối tượng đang đánh bài ăn thua bằng tiền theo hình thức đánh bài phỏm. Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận cụ thể như sau:
Sòng bài thứ nhất: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, Vũ Văn K1 chạy xe về bãi xe Phạm H11 để gởi xe thì K1 thấy ở dãy chòi lá dùng cho tài xế nghỉ ngơi có chơi đánh bài phỏm ăn tiền nên K1 vào chơi cùng với C1, B (Chưa rõ lai lịch), Nguyễn Văn H7. Chơi đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày thì C1, B nghỉ nên Lê Việt A và Lê Minh H10 vào thế chỗ chơi tiếp. Khi tham gia đánh bạc, K1 đem theo 5.800.000 đồng để chơi, thắng được 400.000 đồng; Việt A đem theo 700.000 đồng để chơi, thua 200.000 đồng; H7 đem theo 1.520.000 đồng, thắng 280.000 đồng; H10 đem theo 500.000 đồng, thắng 20.000 đồng.
Sòng bài thứ hai: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, Lê Ái Chiêu M điều khiển xe đầu kéo biển số 51C-766.76 về đậu tại bãi xe Phạm H11 sau đó vào căn tin bãi xe để uống nước, tại đây M gặp Trương Vũ T, Nguyễn Thanh T1, Phan Hữu Q (tất cả đều là tài xế) rồi cùng rủ nhau chơi bài “Phỏm” thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Cả nhóm lấy 01 bộ bài tây tại căn tin của bãi xe rồi cùng nhau chơi. Khi chơi đánh bạc M mang theo 1.200.000 đồng, thắng 4.090.000 đồng; Q mang theo 780.000 đồng, thua 600.000 đồng; T1 mang theo 4.100.000 đồng, thua 4.070.000 đồng; T mang theo 2.610.000 đồng, thắng được 580.000 đồng.
Các đối tượng nêu trên chơi đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày thì Cơ quan Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đưa tất cả về trụ sở Công an phường P, thành phố T làm việc.
Vật chứng và đồ vật thu giữ trong vụ án gồm:
- Tiền Ngân hàng N1 17.710.000 đồng sử dùng để đánh bạc (Trong đó thu giữ của Vũ Văn K1 là 6.200.000 đồng; Lê Việt A là 500.000 đồng; Lê Minh H10 là 520.000 đồng; Nguyễn Văn H7 là 1.800.000 đồng; Lê Ái Chiêu M là 5.290.000 đồng; Nguyễn Thanh T1 là 30.000 đồng; Trương Vũ T là 3.190.000 đồng; Phan Hữu Q là 180.000 đồng);
- 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng);
- 02 (hai) cái bàn;
- 08 (tám) cái ghế.
Tại Cáo trạng số: 203/CTr-VKSTPTĐ ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng.
- Các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và nhất trí với nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q phạm tội “Đánh bạc”. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt các bị cáo: Vũ Văn K1, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q mỗi bị cáo 06 tháng tù, thời hạn tù bằng thời gian tạm giam, tuyên trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Việt A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo; thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù; về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định.
- Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
- Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo, của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc với nhau ăn thua bằng tiền dưới hình thức bài phỏm tại bãi xe Phạm H11 (trên đường V, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) và bị phát hện bắt quả tang lúc 19 giờ 45 phút ngày 24/12/2023. Theo đó, đối với chiếu bạc do Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7 tham gia, tổng số tiền thu được trên chiếu bạc và trên người các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc là 9.020.000 đồng; đối với chiếu bạc do Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q tham gia, tổng số tiền thu được trên chiếu bạc và trên người các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc là 8.690.000 đồng.
Xét hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm hại đến trật tự và nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Số tiền các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7 tham gia đánh bạc là 9.020.000 đồng; số tiền các bị cáo Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q tham gia đánh bạc là 8.690.000 đồng, do đó các bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên cáo trạng truy tố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q đều phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đã bị tạm giam một thời gian dài nên đủ để răn đe, giáo dục, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù bằng thời gian tạm giam để trả tự do cho các bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Đối với bị cáo Lê Việt A, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đồng thời bị cáo hiện đang tiếp tục phải thường xuyên uống thuốc điều trị bệnh theo chỉ định của bác sĩ, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 17.710.000 đồng thu giữ của các bị cáo (Vũ Văn K1 6.200.000 đồng,Lê Việt A 500.000 đồng,Lê Minh H10 520.000 đồng,Nguyễn Văn H7 1.800.000 đồng, Lê Ái Chiêu M 5.290.000 đồng, Nguyễn Thanh T1 30.000 đồng, Trương Vũ T 3.190.000 đồng, Phan Hữu Q 180.000 đồng). Xét đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, liên quan đến vụ án nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định.
- Đối với 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng); 02 (hai) cái bàn; 08 (tám) cái ghế. Xét đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, liên quan đến vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[8] Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên C1, B do hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục truy xét, khi nào có kết quả thì xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q, mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam.
- Trả tự do cho các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q tại phiên tòa nếu các bị cáo không phạm tội nào khác.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Lê Việt A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Giao bị cáo Lê Việt A cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- - Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 17.710.000 (mười bảy triệu bảy trăm mười nghìn) đồng.
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng); 02 (hai) cái bàn; 08 (tám) cái ghế.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 1430/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Buộc các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Các bị cáo Vũ Văn K1, Lê Việt A, Lê Minh H10, Nguyễn Văn H7, Lê Ái Chiêu M, Nguyễn Thanh T1, Trương Vũ T, Phan Hữu Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo được hưởng án treo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Đời |
Bản án số 288/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 288/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Khuy đánh bạc
