|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 288/2024/HS-ST Ngày: 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Huệ
Bà Châu Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 327/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo.
1/- Nguyễn Phương T, Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/07/1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 1 đường C, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: 4 đường số A, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phương Đ và bà Nguyễn Kim H; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Nhân Thân: Tại bản án số hình sự sơ thẩm số 21/2020/HSST ngày 07/4/2020 của Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt là 03 năm tù. Nguyễn Phương T chấp hành án xong ngày 25/4/2022 (Đã được xóa án tích); Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/06/2024 (có mặt).
2/- Bùi Văn S, Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/07/1995 tại tỉnh Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: Thôn F, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện tại: Xưởng nội thất H đường số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T1 và bà Lê Thị H1; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10/06/2024 (có mặt).
3/- Nguyễn Anh T2, Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/11/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: ấp F, xã L, huyện B, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện tại: 108/14 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh C và bà Nguyễn Thị Ngọc P; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Nguyễn Thị Hồng T3 và có 01 người con, sinh năm 2020; Nhân thân: Tại bản án số hình sự sơ thẩm số 95/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nguyễn Anh T2 chấp hành án xong hình phạt tù ngày 04/02/2022.Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 21/9/2022, bị Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý Số 01 đến ngày 20/12/2023; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 10/6/2024 (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng T3, sinh năm 1990; Địa chỉ: 1 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, Nguyễn Phương T thấy Nguyễn Anh T2 đăng bài trên nhóm mạng xã hội facebook cần tìm mua ma tuý để sử dụng kèm theo số điện thoại nên T đã gọi cho T2 để trao đổi. T và T2 thống nhất gặp nhau tại địa chỉ số D Đường số A, Phường H, quận G để giao ma tuý. T2 đã chuyển khoản 1.000.000 đồng tiền mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng Vietcombank. Sau đó, T sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn T” liên hệ với tài khoản zalo “Thắng P1” hỏi mua 700.000 đồng ma tuý tổng hợp (hàng đá) thì “Thắng P1” đồng ý bán và T đã chuyển khoản số tiền 700.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V của T vào tài khoản ngân hàng Techcombank để trả tiền mua ma tuý. Sau đó, T chụp màn hình điện thoại nội dung đã chuyển khoản cho “Thắng P1” và báo địa chỉ giao ma tuý cho T tại địa chỉ số D Đường số A, Phường H, quận G. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, tài xế xe công nghệ B gọi điện thoại cho T xuống nhận hàng là gói trà sâm. T mang lên phòng mở ra thấy bên trong có 01 gói nylon chứa ma tuý tổng hợp (hàng đá). Sau khi mua được ma tuý, T liên hệ với T2 và đặt xe mang ma tuý qua giao cho T2 tại khu vực khách sạn H3 thuộc Đường số A, Phường A, quận G. Sau khi T2 mua được ma tuý thì đi đón vợ là Nguyễn Thị Hồng T3 đi làm về nhà. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi T2 đi đến trước nhà số C P, Phường A, quận G, Thành phố H tổ công tác 363 Công an quận G kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng (Bút lục 04, 05), là 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Anh T2 và hình dấu của Công an P2, quận G là ma tuý ở thể rắn có có khối lượng 0,1022 gam, loại Methamphetamine (Bút lục số 53) và 01 điện thoại di động REDMI là điện thoại của Nguyễn Anh T2 sử dụng để liên hệ mua ma tuý.
Quá trình điều tra được biết: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Nguyễn Phương T thấy Q (không rõ lai lịch) đăng bài bán ma túy kèm số điện thoại trên nhóm Facebook tên “Đập Đá” nên T gọi điện cho Q để hỏi mua ma túy thì Q cho T địa điểm ở khu vực T, quận B. Khi T đến thì ngồi ăn cơm kế bên một nhà thờ ở khu vực này thì Q điều khiển xe gắn máy loại Vision (không rõ biển số) tới đưa cho T 01 gói nylon chứa ma tuý và T trả 500.000 đồng tiền mặt cho Q. Sau đó, T mang gói ma túy về phòng thuê để sử dụng và bán.
Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Bùi Văn S sử dụng điện thoại của S nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T qua tài khoản “Manh Long” để đặt mua ma túy đá với số tiền 350.000 đồng thì T đồng ý bán và hẹn S ra khu vực Ngã ba T - Q, quận để gặp mặt. Sau đó, S điều khiển xe mô tô đến khu vực Ngã ba T - Q thì T liên hệ cho S bằng Z “Nguyễn T” bảo S đến địa chỉ số D Đường số A, Phường H, quận G, T dẫn S lên phòng số 103 là nơi T thuê trọ và có đưa cho S một cái nỏ thủy tinh chứa sẵn ma túy đá để S sử dụng thử hàng trước. Thử hàng xong, S chuyển cho T số tiền 350.000 đồng qua tài khoản Momo tên Nguyễn Phương T. T nói S đi ra ngoài lát nữa quay lại để nhận ma túy đá. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/6/2024, T bảo S quay lại phòng của T và T đã lấy gói ma túy đã mua của Q trước đó chiết một ít bỏ vào gói nylon đưa cho S. Sau khi nhận gói ma túy đá, T nói với S tối rồi nếu sợ Công an bắt thì cứ ở lại đây để sử dụng. Lúc này, S tự bỏ hết ma túy đá trong gói nylon T bán cho S vào nỏ thủy tinh mà S mang theo và sử dụng ngay tại phòng của T. Số ma túy còn lại sau khi đã bán cho S, T cũng bỏ hết vào nỏ thủy tinh của T để sử dụng. Sử dụng ma túy đá xong, S ngủ lại phòng của T. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 09/6/2024 thì có bạn của T là Trương Ngọc T4 đến ngủ lại. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, S chuẩn bị về thì bị Công an phát hiện, vật chứng thu giữ gồm: 01 nỏ thủy tinh bị vỡ chứa ma túy đá của S cất trong hộp kim loại bỏ trong túi xách của S; thu giữ của T 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (T khai là gói đường phèn) và bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh gắn nỏ thủy tinh và ống hút và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bút lục 02 -03).
Căn cứ Bản kết luận giám định số 7077/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an T6 kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có khối lượng 1,0682g (một phẩy không sáu tám hai gam), không tìm thấy ma tuý (thu giữ của Nguyễn Phương T, bút lục 51).
Căn cứ Bản kết luận giám định số 7078/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an T6 kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1309g (không phẩy một ba không chín gam), loại Methamphetamine (thu giữ của Bùi Văn S, bút lục 49).
Vật chứng vụ án gồm:
- - 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Anh T2 và hình dấu của Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0628g, loại Methamphetamine. 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Bùi Văn S và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0587g, loại Methamphetamine, 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Phương T và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, không tìm thấy ma tuý, còn lại sau giám định là 0,9662g và 03 (ba) nỏ thủy tinh.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI là điện thoại của Nguyễn Anh T2 sử dụng để liên hệ mua ma tuý.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 là điện thoại của Bùi Văn S sử dụng để liên hệ mua ma tuý.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 là điện thoại của Nguyễn Phương T sử dụng để liên hệ mua bán ma tuý.
- - 01 (một) xe mô tô. Qua xác minh, anh Lý Gia H2 là chủ sở hữu, vào khoảng tháng 6 năm 2019 anh H2 bán chiếc xe trên cho cửa hàng X ở H và có giấy tờ mua bán. Anh Nguyễn Thành C1 là chủ cửa hàng X xác nhận việc vào khoảng tháng 6 năm 2019, anh C1 đã mua xe mô tô từ anh Lý Gia H2 với giá 32.000.000 đồng. Đến ngày 04/02/2022 thì anh C1 đã bán chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Hồng T3 với giá 49.500.000 đồng. Việc Nguyễn Tuấn A sử dụng xe để đi mua ma túy thì chị T3 hoàn toàn không biết.
- - 01 (một) bình nhựa có ống hút nhựa trong túi xách.
- - 01 (một) lọ thủy tinh gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa.
Cơ quan điều tra đã nhập kho số vật chứng còn lại theo Phiếu nhập số 191/PNK ngày 07/8/2024
Tại bản cáo trạng số 397/CTr-VKS, ngày 18/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 10 năm đến 11 năm tù .
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Anh T2 và hình dấu của Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0628g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Bùi Văn S và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0587g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Phương T và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, không tìm thấy ma tuý, còn lại sau giám định là 0,9662g và 04 (bốn) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình nhựa có ống hút nhựa trong túi xách và 01 ống hút nhựa
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, 01 (một) điện thoại di động Iphone 8; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng T3 chiếc xe gắn máy.
- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 650.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo Nguyễn Phương T, Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các Điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Phương T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 251; Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi của các bị cáo Nguyễn Phương T, Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo Nguyễn Phương T mua ma túy của đối tượng trên mạng xã hội về bán lại cho bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S để thu lợi bất chính, mặt khác bị cáo T còn có hành vi sau khi bán ma túy cho bị cáo S, còn sử dụng địa điểm nhà thuê của mình chứa chấp bị cáo S sử dụng trái phép chất ma túy, còn đối với bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S mua ma túy của bị cáo T để sử dụng, số ma túy bị cáo Nguyễn Anh T2 tàng trữ qua giám định có khối lượng là khối lượng 0,1022 gam, loại Methamphetamine, bị cáo Bùi Văn S qua giám định có khối lượng 0,1309 gam loại Methamphetamine nên Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Phương T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 và các bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở.
Trong vụ án này có đồng phạm nhưng thuộc đồng phạm giản đơn, bị cáo T là người bỏ tiền ra mua ma túy, rồi sau đó chia nhỏ bán lại cho các bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S và chứa chấp bị cáo S sử dụng ma túy tại nhà của bị cáo T, còn các bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S mua ma túy của bị cáo T với mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là nguồn gốc phát sinh ra các tội pháp khác, nên cần phải xử lý nghiêm., mặt khác bị cáo T, T2 có nhân thân xấu, bị cáo T2 có 01 tiền sự về xử phạt hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc năm 2023. Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Đối với bị cáo Nguyễn Phương T do bị cáo phạm hai tội nên khi lượng hình cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để tổng hợp hình phạt cho bị cáo.
[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo S chưa có tiền án, tiền sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mộp phần hình phạt cho các bị cáo,
[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 và Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017. Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên quyết định miễn phạt cho các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Anh T2 và hình dấu của Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0628g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Bùi Văn S và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0587g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Phương T và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, không tìm thấy ma tuý, còn lại sau giám định là 0,9662g và 04 (bốn) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình nhựa có ống hút nhựa trong túi xách và 01 ống hút nhựa là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, 01 (một) điện thoại di động Iphone 8; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12, các bị cáo dùng để liên lạc để mua, bán ma túy là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- - Bị cáo T thu lợi bất chính số tiền 650.000 đồng từ việc bán ma túy cho bị cáo S và bị cáo T2, nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp lại để sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với chiếc xe gắn máy qua xác minh do chị Nguyễn Thị Hồng T3 mua tại cửa hàng X, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, chị T3 cho bị cáo Anh T2 mượn đi công việc, bị cáo Nguyễn Anh T2 sử dụng xe để đi mua ma túy thì chị T3 hoàn toàn không biết, chị T3 có đơn yêu cầu nhận lại chiếc xe trên, nên Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc rõ ràng, nên quyết định trả lại chiếc xe trên cho chị T3.
- - Đối với Trương Ngọc T4 là bạn bè quen biết với Nguyễn Phương T, chỉ đến phòng trọ của T chơi và ngủ lại qua đêm, không biết việc T bán ma tuý, không biết việc T và S sử dụng ma tuý tại phòng thuê của T nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T4 đồng phạm với T và S. Tuy nhiên, qua thử test T4 dương tính với ma tuý phù hợp với lời khai có sử dụng ma tuý trước đó của T4, T4 không sử dụng ma tuý tại phòng thuê của T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao Trương Ngọc T4 cho Công an P2, quận G xử lý hành chính hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Các bị cáo Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09(chín) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 12/06/2024
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Thời hạn tù được tính kể từ ngày 10/06/2024.
- - Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 01 (một) năm tù.
- Thời hạn tù được tính kể từ ngày 10/06/2024.
Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,b,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Anh T2 và hình dấu của Công an P2, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0628g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Bùi Văn S và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma tuý còn lại sau giám định là 0,0587g, loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong phong bì có chữ ký của Nguyễn Phương T và hình dấu của Công an P3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, không tìm thấy ma tuý, còn lại sau giám định là 0,9662g và 04 (bốn) nỏ thủy tinh; 01 (một) bình nhựa có ống hút nhựa trong túi xách và 01 ống hút nhựa
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, 01 (một) điện thoại di động Iphone 8; 01 (một) điện thoại di động Iphone 12.
- - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng T3 chiếc xe gắn máy.
- (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 191/PNK, ngày 07/08/2024 của Công an quận G).
- - Buộc bị cáo Nguyễn Phương T nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 650.000 (sáu trăm năm mươi ngàn) đồng.
Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1 về án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Tường Linh |
Bản án số 288/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội mua bán trái phép chất ma túy, tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 288/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma túy, Tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phương T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; Nguyễn Anh T2 và Bùi Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
