TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 288/2024/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
- Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Trần Thị Kim Nhung
Ông Nguyễn Văn Huề
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 267/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 279/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành H; sinh ngày 27 tháng 7 năm 1978, tại Ninh Bình; nơi cư trú: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Phạm Thị T; vợ, con: chưa có; tiền sự: không có
- Tiền án:
- + Ngày 02/01/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về vội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 26/10/2015 chấp hành xong bản án.
- + Ngày 18/9/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 21 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Ngày 24/11/2018 chấp hành xong bản án.
- + Ngày 13/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 23/10/2021, chấp hành xong bản án.
- + Ngày 17/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 18/5/2024, chấp hành xong bản án.
- Nhân thân:
- + Ngày 13/4/1999, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 04 tháng 12 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân. Ngày 13/4/1999, chấp hành xong bản án.
- + Ngày 08/10/1999, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân"; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/1999, chấp hành xong phần dân sự ngày 29/9/2010.
- + Ngày 20/9/2000, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 08/01/2003, chấp hành xong bản án.
Bị cáo đầu thú ngày 16/8/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; nơi cư trú: tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ D, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Thành H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 14/8/2024, H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu đỏ, biển kiểm soát 34B3-110.24 đi đến khu vực kho tập kết phế liệu của anh Nguyễn Văn C tại tổ A, khu D, phường H, thành phố H, thấy cửa chính của kho đang mở, anh C đang nằm ngủ trên võng trong kho, xung quanh không còn ai khác nên H đỗ xe ở dưới lòng đường và đi vào bên trong. H thấy trên chiếc ghế nhựa bên cạnh vị trí võng anh C đang nằm có 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s plus, màu xám nên H cúi người qua dây treo võng, lén lút lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe đi về nhà. Tại đây, H kiểm tra thấy chiếc điện thoại di động trên không có sim điện thoại, không có mật khẩu khóa màn hình. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H mang chiếc điện thoại vừa lấy trộm được đến cửa hàng “Thảo Mobile” thuộc khu D, phường H, thành phố H bán cho anh Nguyễn Mạnh T1 (là chủ cửa hàng) với giá 400.000 đồng. Số tiền trên H đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 16/8/2024, anh C đến Công an thành phố H trình báo sự việc. Hồi 17 giờ 40 phút cùng ngày, Nguyễn Thành H đến Công an thành phố H đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 173/KLĐGTS ngày 22/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu xám, bản 16gb, mua mới năm 2019, số imei 353329075080537, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có trị giá 1.100.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Mạnh T1 tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu xám đã mua của bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thành H tự nguyện giao nộp: 01 chiếc áo phông ngắn tay, màu đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, màu hồng đen; 01 đôi dép lê màu đen; 01 chiếc quần đùi màu ghi; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 34B3-110.24, số khung ZAPM4430000025976, số máy M444M-529364.
Bản Cáo trạng số 5166/CT-VKSHL ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại anh Nguyễn Văn C trình bày: vào khoảng 13 giờ ngày 14/8/2022, anh đang ngủ trên võng tại kho phế liệu của anh thuộc tổ A, khu D, phường H, thành phố H, anh để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu xám ở trên ghế, cạnh võng anh nằm. Sau khi tỉnh dậy thì không thấy chiếc điện thoại nữa, anh đã kiểm tra camera và phát hiện vào khoảng 13 giờ 22 phút cùng ngày có 01 thanh niên mặc áo phông màu đen, quần đùi màu xám, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đi dép đến vị trí của anh và lấy chiếc điện thoại nêu trên. Anh C đã trình báo sự việc với cơ quan Công an và sau đó xác định được bị cáo H là người trộm cắp điện thoại. Đến nay, bị hại đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Mạnh T1 có lời khai tại quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bị cáo vào cửa hàng điện thoại “Thảo Mobile” của anh bán cho anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu xám với giá 400.000 đồng. Bị cáo khai đó là tài sản của bị cáo, anh T1 không biết đây là tài sản bị cáo trộm cắp mà có. Anh T1 đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại trên cho cơ quan điều tra để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số tiền 400.000 đồng, anh T1 có quan điểm do số tiền không lớn, bị cáo không có nghề nghiệp nên anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh cũng không đề nghị bị cáo phải trả cho anh thêm bất cứ khoản tiền nào khác.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- +Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
- +Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc áo phông ngắn tay, màu đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, màu hồng đen; 01 đôi dép lê màu đen; 01 chiếc quần đùi màu ghi đều đã qua sử dụng; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu đỏ, biển kiểm soát 34B3-110.24, số khung ZAPM4430000025976, số máy M444M-529364, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. H khai không bàn bạc với ai về việc trộm cắp tài sản, cũng không có ai thực hiện hành vi trộm cắp cùng. Khi mang tài sản trộm cắp được đi bán cho anh T1, H nói đó là tài sản của người quen cho H. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo hứa quyết tâm sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên là có căn cứ.
[2] Về tội danh: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, các Bản ảnh, Biên bản làm việc và tài liệu lưu trữ video ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 14/8/2024 tại tổ A, khu D, phường H, thành phố H, Nguyễn Thành H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu ghi, dung lượng 16GB trị giá 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn C.
Bị cáo đã có 04 tiền án, trong đó có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 tiền án đều về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này được xác định là đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú, có mẹ đẻ là bà Phạm Thị T được Bộ G huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, cũng như đã đi chấp hành án phạt tù nhưng vẫn tiếp tục phạm tội cho thấy sự coi thường pháp luật và không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo
[4] Về hình phạt chính: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do ham chơi, lười lao động nên dù đã bị Tòa án xét xử nhiều lần cùng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm người công dân có ích cho xã hội lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Mức hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại – anh Nguyễn Văn C đã được trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu xám, anh C không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – anh Nguyễn Mạnh T1 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 400.000 đồng, cũng không đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý tài sản, vật chứng trong vụ án:
01 chiếc áo phông ngắn tay, màu đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, màu hồng đen; 01 đôi dép lê màu đen; 01 chiếc quần đùi màu ghi đều đã qua sử dụng. Bị cáo không đề nghị nhận lại, xét thấy đây là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 34B3-110.24, số khung ZAPM4430000025976, số máy M444M-529364 do bị cáo giao nộp, bị cáo khai mua của người không quen biết, không có giấy tờ mua bán. Cơ quan Công an đã xác định tài sản mang tên chủ sở hữu là chị Phạm Vũ Mai A. Quá trình điều tra chị Mai A xác nhận đã bán lại chiếc xe cho người không quen biết, không lập giấy tờ mua bán, chị không còn là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô này nữa. Xét đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, chứng cứ buộc tội, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[9] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: đối với anh Nguyễn Mạnh T1 khi mua điện thoại của bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thành H 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
2. Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc áo phông ngắn tay, màu đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm, dạng mũ lưỡi trai, màu hồng đen; 01 đôi dép lê màu đen; 01 chiếc quần đùi màu ghi đều đã qua sử dụng.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu đỏ, biển kiểm soát 34B3-110.24, số khung ZAPM4430000025976, số máy M444M-529364, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 27/BB-THA ngày 29/10/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Huề - Trần Thị Kim Nhung | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 288/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 288/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản
