Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 288/2024/DS-ST

Ngày 12 - 9 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Ảnh

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau và điểm cầu thành phần trụ sở Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đầm Dơi xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 523/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân h C.

Địa chỉ trụ sở: Số 02, đường Linh Đường, phường H, quận H, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Quyết T là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thắng: Ông Mai Quốc V – Phó giám đốc phụ trách Phòng giao dịch Ngân hàng C (Văn bản ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019).

Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Trần Ngọc T – Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C (Văn bản ủy quyền số 290/QĐ-NHCS ngày 02/10/2023). (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Trương Chí T, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp Bàu Sen, xã Tân Duyệt, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hải Y, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Ấp Bàu Sen, xã Tân Duyệt, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 7 năm 2024 của nguyên đơn và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Ngọc T trình bày: Căn cứ hồ sơ vay vốn đã ký kết giữa ông Trương Chí T với Phòng giao dịch Ngân hàng c ngày 10/07/2009. Theo đó ông Trương Chí T vay vốn tại Ngân hàng c - Phòng giao dịch Đầm Dơi theo số khế ước tiền vay 6000006000003478 số tiền 20.000.000 đồng; lãi suất vay 0,9%/tháng; lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn.

Trong quá trình vay ông T trả nợ tiền gốc 0 đồng, tiền lãi số tiền 3.017.000 đồng.

Món vay đã quá hạn trả nợ gốc phân kỳ, nhưng đến nay ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y chưa thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình để trả dứt điểm lãi và nợ gốc theo phân kỳ cho Phòng giao dịch Ngân hàng c như hồ sơ vay vốn đã ký.

Nay, Ngân hàng c khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y trả nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền 41.119.747 đồng (trong đó nợ gốc số tiền 20.000.000 đồng, nợ lãi số tiền 21.119.747 đồng) và lãi phát sinh đến thời điểm tất toán tất món nợ.

Đối với bị đơn ông Trương Chí T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hải Y : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T và bà Y theo quy định pháp luật, nhưng các đương sự không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là đúng với trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 92 Bộ luật Dân sự; Án lệ số 08/2016AL; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.

Buộc ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y trả cho Ngân hàng C số tiền 41.119.747 đồng và lãi suất phát sinh đến khi tất toán xong khoản nợ.

Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng các đương sự vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà Y .

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y trả tổng số tiền vay và lãi 41.119.747 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, theo số khế ước vay 6000006000003478 và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/6/2009, ông T vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn trả nợ vay cuối cùng ngày 10/7/2013, lãi suất vay trong hạn 0,9%/tháng, lãi suất quá hạn 130%/tháng lãi suất trong hạn. Hợp đồng tín dụng này được hai bên thực hiện trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, tuân thủ về nội dung và hình thức theo các Điều 385, Điều 401, Điều 402 Bộ luật Dân sự, nên có hiệu lực đối với các bên tham gia. Các bên tham gia giao dịch có mọi quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký. Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 31/01/2014, ông T trả lãi cho Ngân hàng được tổng số tiền 3.017.000 đồng, kể từ đó ông T không thanh toán bất cứ khoản nào cho Ngân hàng và Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông T không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng vay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng.

[3] Đối với bà Nguyễn Hải Y là người cùng ký hợp đồng vay vốn và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 21/6/2009 cùng ông T với tư cách người người thừa kế cho ông T vay tiền, nên bà Y phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông T trả nợ cho Ngân hàng. Cũng như, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự: “...Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết...mà bên đương sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh...”. Viện dẫn theo điều luật trên, từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T và bà Y nhưng ông T và ông Y không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của Ngân hàng nên ông bà chịu thiệt hại về sự văng mặt của mình.

Từ căn cứ trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y trả cho Ngân hàng tổng số tiền 41.119.747 đồng (trong đó nợ gốc số tiền 20.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 17/7/2024 số tiền 21.119.747 đồng).

[4] Đối với yêu cầu của Ngân hàng C buộc ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y về tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 17/01/2026 cho đến ngày tất toán theo số khế ước vay tiền 6000006000003478 ngày 10/7/2009. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng phù hợp theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2019 nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận”. Do đó, ông T và bà Y phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 2.056.000 đồng (41.119.747 đồng x 5%).

[6] Ý kiến của Kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C

  1. Buộc ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y trả cho Ngân hàng C tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền 41.119.747 đồng (bốn mươi mốt triệu một trăm mười chín nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày 17/01/2026) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Trương Chí T và bà Nguyễn Hải Y phải chịu 2.056.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Giang Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 288/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2019 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam. 1. Buộc ông Trương Chí Toàn và bà Nguyễn Hải Yến trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam tính đến ngày 17/7/2024 tổng số tiền 41.119.747 đồng (bốn mươi mốt triệu một trăm mười chín nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Kể từ ngày 17/01/2026) khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Trương Chí Toàn và bà Nguyễn Hải Yến phải chịu 2.056.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger