Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 288/2024/DS-ST

Ngày 08 tháng 11 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

và vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh

Bà Tăng Thị Bạch Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng

Ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản” thụ lý số 393/2024/TLST-DS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 505/2024/QĐXXST-DS, ngày 23 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp F, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

Bị đơn: Bà Dương Thị Cẩm H, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp F, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện ngày 14/8/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà T làm chủ hụi và bà Dương Thị Cẩm H là hụi viên có tham gia các dây hụi, phần hụi như sau: Dây 1 Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 10/8/2022 âm lịch, có 30 phần bà H tham gia 03 phần, tên trong giấy hụi là "7 Sáng" và "Sáng" (vì chồng bà H tên S). Bà H đã hốt hụi hết 03 phần hụi ở lần khui đầu tiên và lần 2, lần 3, sau khi hốt hụi thì bà T đã giao đủ tiền cho bà H và bà H có đóng hụi chết đến lần khui thứ 14 thì ngưng, tại thời điểm khởi kiện thì bà T đã đóng thay cho bà H 09 lần, bằng số tiền của 03 phần hụi là 27.000.000 đồng (Dây hụi này chưa mãn, còn 06 lần nữa mới mãn); Dây 2 Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 05/02/2023 âm lịch, có 30 phần bà H tham gia 02 phần và đã hốt hụi hết 02 phần ở lần khui đầu tiên và lần 2, sau khi hốt hụi thì bà T đã giao đủ tiền cho bà H và bà H có đóng hụi chết đến lần khui thứ 10 thì ngưng, tại thời điểm khởi kiện thì bà T đã đóng thay cho bà H 09 lần, bằng số tiền của 02 phần hụi là 18.000.000 đồng (Dây hụi này chưa mãn, còn 10 lần nữa mới mãn); Dây 3 Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 30/3/2023 âm lịch, có 18 phần, bà H tham gia 01 phần và hốt hụi ở lần khui thứ 7, bà T đã giao đủ tiền cho bà H và bà H có đóng hụi chết được 02 lần thì ngưng, bà T đã đóng thay cho bà H đến ngày hụi mãn là 09 lần, bằng số tiền 18.000.000 đồng; Dây 4 Hụi tháng 1.000.000 đồng, mở ngày 25/01/2022 âm lịch, có 26 phần, bà H tham gia 02 phần và đã hốt hụi hết 02 phần ở lần khui thứ 2 và 3, sau khi hốt hụi thì bà T đã giao đủ tiền cho bà H và bà H có đóng hụi chết đến lần khui thứ 23 thì ngưng, bà T đã đóng thay cho bà H đến ngày hụi mãn là 03 lần, bằng số tiền của 02 phần hụi là 6.000.000 đồng. Tổng cộng 04 dây hụi bà T đã đóng hụi thay cho bà H 69.000.000 đồng (27.000.000 đồng + 18.000.000 đồng + 18.000.000 đồng + 6.000.000 đồng); ngoài ra vào năm 2023, bà H có mượn của bà T 05 chỉ vàng 24K đến nay chưa trả. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Dương Thị Cẩm H trả số tiền 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Dương Thị Cẩm H trình bày: Bà H thừa nhận có tham gia 04 dây hụi do bà T làm chủ hụi, cụ thể là: Dây 1 tham gia 03 phần, Dây 2 tham gia 02 phần, Dây 3 tham gia 01 phần và Dây 4 tham gia 02 phần, tất cả các phần hụi bà H tham gia thì bà đã hốt hụi xong và bà T làm chủ hụi có giao hụi đầy đủ cho bà, sau khi hốt hụi thì bà có đóng hụi chết nhưng không đầy đủ, và có mượn của bà T 05 chỉ vàng 24K đến nay chưa trả, tất cả như phần trình bày của bà T là đúng. Bà H xác nhận hiện nay bà còn nợ bà T tiền hụi là 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K (chưa tính những phần hụi còn lại của các dây hụi chưa mãn). Trước yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà H chấp nhận và đồng ý trả bà T số tiền vàng còn nợ, nhưng bà H có yêu cầu trả dần theo khả năng mỗi tháng trả 5.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ là 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K qui tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

[1] Trong quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của bị đơn bà Dương Thị Cẩm H, thì được biết giữa bà H với bà Nguyễn Thị T có thỏa thuận hợp đồng góp hụi và vay mượn tài sản; xét về hình thức, nội dung và mục đích của giao dịch hợp đồng giữa các bên đương sự thấy rằng cả bà T, bà H đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên giao dịch hợp đồng giữa các đương sự là hợp pháp.

[2] Đối với chứng cứ nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K, đã được bị đơn bà H thừa nhận toàn bộ, nên đây là tình tiết không phải chứng minh của nguyên đơn được quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Đối với ý kiến của bị đơn yêu cầu được trả dần nhưng không được nguyên đơn đồng ý, xét thấy nội dung này thuộc thẩm quyền ở giai đoạn thi hành án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Đối với việc quy đổi vàng bằng tiền, tại phiên tòa, giữa nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận mức giá 8.400.000 đồng/chỉ vàng 24K, phù hợp với giá vàng nữ trang được cập nhật dao động tương ứng tính theo giá bán ra tại thời điểm xét xử sơ thẩm, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Từ phân tích trên, có căn cứ xác định bà Dương Thị Cẩm H còn nợ bà Nguyễn Thị T số tiền 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K quy tiền là 42.000.000 đồng, tổng cộng là 111.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà H phải có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền này theo quy định tại các Điều 280, 357, 463, 466, 468, 471 của Bộ luật Dân sự.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 280, 357, 463, 466, 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Điều 24 và 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bà Dương Thị Cẩm H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền hụi còn nợ là 69.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K được quy đổi bằng tiền tại thời điểm xét xử theo đơn giá 8.400.000 đồng/chỉ vàng 24K là 42.000.000 đồng, tổng cộng là 111.000.000 (một trăm mười một triệu) đồng.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí: Buộc bà Dương Thị Cẩm H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 5.550.000 (năm triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kế Sách;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 288/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản

  • Số bản án: 288/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu bà H trả nợ hụi và nợ vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger