TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 288/2024/HS-ST
Ngày: 27/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lệ Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đoàn Văn Minh;
- Ông Phạm Minh Thân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2024/TLST-HS ngày 16/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với Bị cáo:
Họ và tên: Đào Minh T; Sinh năm: 2006; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Số A, ngõ 5 Q, tổ dân phố G, phường Đ, quận N, thành phố H; Nghề nghiệp: Học sinh Trường THPT Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đào Văn P; Con bà: Nguyễn Thị M; Gia đình Bị cáo có 05 chị em, Bị cáo là con thứ nhất; Chồng/Con: Không;
Trích lục tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/6/2024 đến ngày 18/6/2024, hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 15 phút ngày 09/6/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy C quận N trên đường làm nhiệm vụ đến khu vực ngõ E đường Q, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội phát hiện 02 nam nữ thanh niên đi xe máy đang trao đổi có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Thấy lực lượng Công an nam thanh niên điều khiển xe máy bỏ chạy thoát còn nữ thanh niên bị lực lượng Công an giữ lại. Quá trình kiểm tra người nữ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode BKS: 29L1-617.05 phát hiện tại tay trái người này có 01 gói nilông bên trong có 01 lọ nhựa nắp màu đen chứa dung dịch màu trắng. Tại chỗ, người này khai nhận là Đào Minh T, lọ nhựa nắp màu đen chứa tinh dầu dung dịch màu trắng là ma túy của T mang bán cho nam thanh niên vừa bỏ chạy với giá 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng). Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ niêm phong tang vật và dẫn giải đối tượng về trụ sở Công an để làm rõ.
Vật chứng tạm giữ gồm có: 01 lọ bằng nhựa nắp màu đen bên trong có chứa dung dịch màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ lắp 01 sim số 0969120082 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đỏ, BKS: 29L1-617.05.
Quá trình điều tra xác định: Đào Minh T đang là học sinh lớp 12 trường THPT Đ1, quận N, thành phố Hà Nội. Do cần tiền tiêu xài cho bản thân nên T nảy sinh ý định mua ma tuý “tinh dầu” (loại cho vào Pod điện tử để hút gây ảo giác) về bán lại kiếm lời. T sử dụng tài khoản Facebook “Minh Thư” đăng bài bán “tinh dầu” trên các hội nhóm Facebook, khi có khách liên hệ hỏi mua T sẽ hẹn địa điểm giao dịch, đặt mua “tinh dầu” của những người bán khác trên Facebook để bán lại kiếm lời.
Sáng ngày 09/6/2024 khi T đang ở nhà tại số G, ngõ E Q, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội, có tài khoản Facebook (chưa rõ tài khoản) liên hệ qua Facebook của T đặt mua 01 lọ “tinh dầu”, T nhận lời bán sau đó truy cập vào một số hội nhóm trên Facebook để tìm người bán thì thấy có một tài khoản đăng bán “tinh dầu”, T nhắn tin liên hệ hỏi mua thì người này báo giá 150.000 đồng. T đồng ý mua và hẹn giao đến ngách B đường Đ, phường Đ, quận N, Hà Nội. Đến trưa cùng ngày, có một người đàn ông giao hàng G (chưa rõ lai lịch) giao đến cho T 01 gói nilông bên trong có 01 lọ nhựa nắp màu đen chứa dung dịch màu trắng là “tinh dầu” ma tuý. T đưa người này 150.000 đồng tiền mặt. Sau khi mua được ma tuý T liên hệ cho khách mua nhưng do người này chờ lâu nên không lấy ma túy nữa. Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, có một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx và tài khoản Zalo tên "Boy Mêtòri") gọi đến số điện thoại 0969.120.xxx của T hỏi mua 01 lọ “tinh dầu”, T đồng ý bán với giá 200.000 đồng và yêu cầu người này chuyển tiền đến tài khoản số 0969120082 tại Ngân hàng M1 mang tên Đào Minh T, sau đó T nhận được 200.000 đồng được chuyển đến từ số tài khoản 2019868999999, Ngân hàng M2, chủ tài khoản: Trần Văn H. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khách mua báo đã đến điểm hẹn tại trước ngõ E đường Q, phường Đ, T lấy lọ “tinh dầu” ma tuý mua được lúc sáng cho vào trong 01 gói nilông cầm ở tay trái rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode BKS: 29L1-617.05 đi ra điểm hẹn gặp 01 nam thanh niên đi xe máy. Khi đang giao dịch thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như nêu trên, nam thanh niên mua ma tuý đã bỏ chạy.
Tại Kết luận giám định số: 4340/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Dung dịch màu trắng bên trong 01 lọ nhựa nắp màu đen có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, thể tích: 5ml./.”
Tại Kết luận giám định số: 6566/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của V - Bộ C kết luận: “Nồng độ (hàm lượng) chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu gửi giám định là: 0,58 mg/mL./."
Về đối tượng bán ma tuý: Đào Minh T khai mua ma tuý của người không quen biết quen qua mạng Facebook và nhận ma tuý từ 01 nam thanh niên mặc áo G không rõ lai lịch, tiền mua ma tuý trả trực tiếp cho người giao. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Đào Minh T chỉ địa điểm nhận ma túy tại ngách B đường Đ, phường Đ, phối hợp với Công an phường Đ rà soát Camera, nhân chứng nhưng không xác định được, nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh làm rõ.
Về đối tượng mua ma tuý: Đào Minh T khai đối tượng sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx, tài khoản Zalo tên "Boy Mêtòri" để liên hệ, sử dụng số tài khoản 2019868999999 tại Ngân hàng M1, chủ tài khoản: Trần Văn H để chuyển tiền mua ma túy. Tiến hành xác minh số điện thoại 0337.522.xxx có thông tin đăng ký thuê bao là chị Phùng Tuyết N (Sinh năm: 1984; Nơi thường trú: số D D, T, H, Hà Nội). Quá trình xác minh xác định chị N không đăng ký, không sử dụng số điện thoại 0337.522.xxx và khẳng định bản thân không biết, không liên quan gì đến ma túy. Tiến hành xác minh chủ tài khoản tại Ngân hàng là anh Trần Văn H (Sinh năm: 1991; HKTT: Huyền Tụng, H, K, Hải Dương) là người làm nghề mua bán điện thoại và có thuê Cửa hàng ngay tại đường L nên ngày 09/6/2024 anh H có cho người đi đường nhờ chuyển hộ tiền vào tài khoản của T. Anh H không biết T và không liên quan đến việc mua bán ma túy. Do T không rõ lai lịch người mua nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh làm rõ.
Về chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu đỏ, BKS: 29L1-617.05: Theo kết quả tra cứu chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Qua xác minh xác định chủ xe là bà Nguyễn Thị M (Sinh năm: 1986; HKTT: Tổ dân phố G, phường Đ, quận N, Hà Nội, là mẹ của T). Ngày 09/6/2024, T mượn xe đi và bà M không biết việc T đi bán ma tuý do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Ngày 27/8/2024, Cơ quan điều tra Công an quận N đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 4062/QĐ-ĐTMT, trả lại bà Nguyễn Thị M chiếc xe máy nêu trên. Bà M đã nhận lại tài sản, không đề nghị gì khác.
Tại Cơ quan điều tra, Đào Minh T đã khai nhận hành vi của T như đã nêu trên;
Tại Cáo trạng số: 240/CT-VKSNTL ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, truy tố Bị cáo Đào Minh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Tại phiên tòa: Bị cáo Đào Minh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của Bị cáo, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố Bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi Bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo Đào Minh T như sau: Trước khi phạm tội, Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, Bị cáo phạm tội lần đầu; Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Gia đình Bị cáo có công với Cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử cho Bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Kiểm sát viên kết luận giữ quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo Đào Minh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Bị cáo T mức hình phạt từ 24 đến 27 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang tuổi đi học, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Không;
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của cán bộ Công an, giám định viên và dấu tròn của V, Bộ C; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước phương tiện phạm tội của Bị cáo: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, gắn 01 sim (Tạm giữ của Bị cáo T); Buộc Bị cáo T nộp số tiền 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) do Bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi của Bị cáo: Lời khai nhận tội của Bị cáo Đào Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 09/6/2024 tại ngõ E đường Q, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội, Đào Minh T đang có hành vi bán ma túy loại MDMB-4en-PINACA, thể tích: 5ml bên trong 01 lọ nhựa nắp màu đen cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân) với giá 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra về ma tuý, Công an quận N, thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng, còn nam thanh niên mua ma túy đã bỏ chạy khỏi hiện trường. Đào Minh T đã khai nhận hành vi của T như đã trên;
Hành vi nêu trên của Bị cáo Đào Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố Bị cáo Đào Minh T về tội danh và khung hình phạt như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của Bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà N1 về chế độ quản lý các chất ma túy. Bị cáo T thực hiện hành vi: “Mua bán trái phép chất ma túy” với lỗi cố ý trực tiếp, Bị cáo nhận thức rõ là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng Bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy, Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo T trước khi phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, Bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội và tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình Bị cáo có công với Cách mạng, nên Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của Bị cáo T là nghiêm trọng, được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy Bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục Bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[3] Về đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo Đào Minh Thư T1 24 đến 27 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét nhận thấy Bị cáo khi phạm tội đang là học sinh lớp 12, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên cho Bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, áp dụng mức hình phạt đối với Bị cáo thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên, cũng là bài học để Bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đang tuổi học sinh, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Đ a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của cán bộ Công an, giám định viên và dấu tròn của V, Bộ C; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước phương tiện phạm tội của Bị cáo: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, gắn 01 sim (Tạm giữ của Bị cáo T); Buộc Bị cáo T nộp số tiền 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) do Bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đào Minh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đào Minh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/6/2024 đến ngày 18/6/2024).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Đ a, b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy vật cấm tàng trữ: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của cán bộ Công an, giám định viên và dấu tròn của V, Bộ C; Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đỏ, gắn 01 sim (Có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 296 ngày 19/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
Buộc Bị cáo T nộp số tiền 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lệ Thủy |
Bản án số 288/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 288/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thư mua bán
